Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2020

Người Tân Cương bằng lòng với cái mình đang có

Chè Tân Cương – Thái Nguyên: Đệ nhất danh trà


ư ngọc Chè Thái Nguyên ngọt giọng Ấm lòng khách tri âm. Xưa nay, nói đến chè Việt, người ta sẽ nghĩ ngay đến chè Thái Nguyên. Mặc dù diện tích trồng chè chỉ đứng thứ 2 cả nước, sau tỉnh Lâm Đồng nhưng Thái Nguyên lại nằm trong vùng chè lâu đời của Việt Nam với sản phẩm chè có hương vị đặc trưng không nơi nào khác có được, mà ngon hơn cả, nổi tiếng hơn cả là 
chè Tân Cương. 

Vùng chè Tân Cương không chỉ bó hẹp trong xã Tân Cương, mà là cả mênh mông nhấp nhô vườn chè của các xã chung quanh như Phúc Trìu và Phúc Xuân. Vùng chè Tân Cương nằm ở lưu vực sông Công, dưới chân Tam Đảo, được trời ban cho chất đất và ánh sáng quý giá cho sự phát triển của loài cây quý hiếm này.
       Bề ngoài, chè Tân Cương có màu xanh đen, xoăn chặt, cánh chè gọn nhỏ, trên bề mặt cánh chè có nhiều phấn trắng. Nước chè rất trong, xanh, vàng nhạt, sánh. Nước chè có vị chát ngọt, dễ dịu, hài hòa, có hậu, gần như không cảm nhận có vị đắng. Mùi chè thơm ngọt, dễ chịu. Chất lượng bao gồm các chỉ tiêu về ngoại hình, màu nước, vị và đặc biệt về mùi thơm của chè Tân Cương không phải xuất phát từ đặc điểm của giống chè mà là kết quả của quá trình chế biến rất tỷ mỷ, công phu. Chè Thái Nguyên nói chung và chè Tân Cương nói riêng chủ yếu vẫn được chế biến theo phương pháp thủ công, truyền thống theo quy mô hộ gia đình. Những búp trà non được hái theo nguyên tắc 1 tôm, 2 lá hoặc 3 lá tùy theo loại trà thành phẩm. Búp trà non được hái nhẹ nhàng, tránh dập nát. Sau khi được hái, chè sẽ được bảo quản tốt và không để dập nát rồi được đưa ngay vào xưởng hay nhà máy để chế biến. Trong thời gian chờ đợi, búp chè sẽ được rũ tơi và rải đều trên các nong bằng tre, quá trình này được gọi là "quá trình héo lá chè". Sau đó chè sẽ được đưa đi xào diệt men, và trong quá trình này, phải có sự đồng đều giữa lượng nhiệt ở đáy chảo và lượng nguyên liệu, đảo đều và nhịp nhàng. Nếu thực hiện quá trình xáo diệt men đúng quy trình, nước sẽ thoát ra khỏi lá chè đều và toàn bộ lá chè trở nên mềm dẻo và không bị quá khô hay quá ướt, là chè vẫn giữ được màu xanh. Sau đó, chè sẽ lại được tãi ra nong thành lớp mỏng để làm nguội và sau đó lại tiếp tục đến công đoạn vò. Quá trình vò được thực hiện rất cẩn thận để lá chè xuăn chặt mà các tế bào ít bị dập. Sau khi vò xong, chè được đưa đi sao để làm khô, số lần sao và thời gian sao tùy thuộc yêu cầu của chất lượng chè sản phẩm. Thông thường chè được sao từ 2 đến 4 lần. Chè Tân Cương đã được người dân nơi đây chế biến thành nhiều loại cho giá trị kinh tế cao như chè xanh, chè đen, chè đinh, chè nõn, hồng trà, bạch trà...
       Nếu như trước đây, nguồn thu nhập từ cây chè chỉ là “phụ” của các hộ nông dân, thì hiện nay, cây chè đã trở thành cây trồng chủ lực, là nguồn thu nhập cơ bản ở các gia đình vùng chè. Chè Thái Nguyên ngon hiện nay có giá không dưới 500 nghìn đồng. Chè “bình dân” nhất cũng phải từ 200 đến 300 nghìn đồng/kg. Riêng chè đinh - sản phẩm đặc biệt nhất của các “nghệ nhân làm chè” đất Chè Tân Cương Thái Nguyên trên thị trường giá bán giao động từ 4 triệu đến 7 triệu đồng/kg. Tại xã miền núi thuần nông này, thu nhập bình quân đạt 8 triệu đồng/người/tháng, trong đó trên 45% số hộ có thu nhập trên 85 triệu đồng/năm từ cây chè. Nói đến hiệu quả của cây chè, ai cũng thừa nhận: Đây là cây mũi nhọn để làm giàu.
       Theo số liệu năm 2015, diện tích chè trồng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên là gần 20.000 ha, với sản lượng đạt 190.000 tấn/năm; năng suất đạt tới 110 tạ/ha, tăng hơn 10 tạ/ha; sản lượng tăng 1.500 tấn. Hiện xã Tân Cương có 350ha chè cho thu hái, hàng năm chế biến gần 900 tấn chè búp khô. Năm 2013, toàn tỉnh Thái Nguyên mới có 15 mô hình chè an toàn theo tiêu chuẩn VIETGAP thì năm 2015 đã có 42 mô hình sản xuất chè an toàn với diện tích 500 ha.
       Tháng 10/2007, sản phẩm chè Tân Cương đã được Cục Sở hữu Trí tuệ cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý “Tân Cương” cho sản phẩm chè được trồng, chế biến và đóng gói tại 3 xã: Tân Cương, Phúc Xuân và Phúc Trìu, thành phố Thái Nguyên. Nhằm nâng cao hơn nữa giá trị sản phẩm chè Thái Nguyên cũng như quảng bá sản phẩm tới đông đảo người dân trong và người nước, những năm gần đây, tỉnh Thái Nguyên nói chung và vùng chè Tân Cương nói riêng đã có những hoạt động thiết thực như tham gia các hội chợ triển lãm, tổ chức Festival chè Thái Nguyên – Việt Nam...
       Chè Tân Cương Thái Nguyên là một loại đồ uống nổi tiếng trong ẩm thực của người Việt Nam có hương thơm cốm dịu dàng đặc trưng, màu nước xanh trong, sánh và bền, vị chát dịu, uống xong có hậu ngọt lắng sâu trong vị giác người thưởng thức. Sản phẩm chè của nhà máy có tác dụng giải nhiệt, giảm béo, trị tăng huyết áp và phòng chống phóng xạ, chống ung thư… Sản phẩm chè Tân Cương chẳng những được người dân trong nước ưa chuộng mà nó đã còn được xuất khẩu sang rất nhiều nước trên thế giới như Pakistan, Đài Loan, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, CH Séc, Đức, Hàn Quốc, Hồng Kông, Mỹ...
       Không biết câu ví “Chè Thái, gái Tuyên” có từ bao giờ, nhưng quả thật, thiên nhiên đã phú cho Tân Cương nói riêng và Thái Nguyên nói chung một vùng khí hậu, thổ nhưỡng vô cùng phù hợp để làm nên thương hiệu “Đệ nhất danh trà”, nức tiếng trong nước và quốc tế.
Về vẻ bề ngoài, chè Tân Cương có màu xanh đen, xuăn chặt, cánh chè gọn nhỏ, trên bề mặt cánh chè có nhiều phấn trắng. Nước chè rất trong, xanh, vàng nhạt, sánh. Nước chè có vị chát ngọt, dễ dịu, hài hòa, có hậu, gần như không cảm nhận có vị đắng. Mùi chè thơm ngọt, dễ chịu. Chất lượng bao gồm các chỉ tiêu về ngoại hình, màu nước, vị và đặc biệt về mùi thơm của chè Tân Cương không phải xuất phát từ đặc điểm của giống chè mà là kết quả của quá trình chế biến rất tỷ mỷ, công phu. Mùi thơm đặc trưng của chè Tân Cương chủ yếu là mùi thơm do xử lý nhiệt tạo ra.[2]
Theo kinh nghiệm truyền thống mà các cụ cao niên xứ trà truyền lại, trà ngon hay không được đánh giá theo bốn tiêu chuẩn gồm: Thanh, Sắc, Vị, Thần. Trà ngon là loại trà có màu nước xanh ánh vàng mật ong (Thanh); cánh cong như móc câu, đều đặn, nhìn thẳng màu đen, nhìn nghiêng thì xanh (Sắc); uống vào có vị đậm đà, bùi, ngầy ngậy, có mùi cốm trong miệng, lúc mới uống có vị chat êm, uống xong có vị ngọt đọng lại rất lâu (Vị); hương thơm quyến rũ, chỉ có ở trà, không thể lẫn vào thức uống nào khác, đem lại sự sảng khoái, thăng hoa cho người thưởng trà (Thần). Sau một ấm trà, người thưởng trà thấy ấm áp trong lòng, tình người thăng hoa, tinh thần sảng khoái, cảm giác nhẹ nhàng, thanh thoát.
Ba xã Tân Cương, Phúc Xuân và Phúc Trìu có tổng diện tích 48,618 km², nằm ở vùng ngoại thành phía tây của thành phố Thái Nguyên, là các xã thuộc vùng trung du bán sơn địa, xen kẽ có nhiều thung lũng hẹp, bằng phẳng; có sông Công chảy qua địa bàn. Ba xã giáp hoặc nằm gần hồ Núi Cốc và nằm ở phía đông của dãy núi Tam Đảo.
Về đất đai, đất ở Tân Cương được cho là có chứa những nguyên tố vi lượng với tỷ lệ phù hợp thuộc quyền đặc hữu của cây chè, được hình thành chủ yếu trên nền Feralitic, macma axít hoặc phù sa cổ, đá cát; có độ pH phổ biến từ 5,5 đến dưới 7,0, thuộc loại đất hơi bị chua. Về khí hậu, vùng tiểu khí hậu phía Đông dãy núi Tam Đảo cao trên dưới 1.000m so với mực nước biển được cho là điều kiện lý tưởng cho phẩm chất chè được hoàn thiện.[4]. Các nhà khoa học đặc biệt quan tâm đến yếu tố bức xạ nhiệt tại khu vực, tổng bức xạ nhiệt là 122,4 kcal/cm2/năm, trong đó lượng bức xạ hữu hiệu là 61,2 kcal/cm2/năm đếu thấp hơn so với chè khác, và đây chính là yếu tố quyết định đến chất lượng trà Tân Cương Thái Nguyên.[1]
Thái Nguyên là tỉnh có diện tích trồng chè lớn thứ hai tại Việt Nam.[5] Từ năm 2005 đến năm 2010, diện tích trồng chè tại xã Tân Cương tăng từ 400 ha lên 450 ha. Sản lượng búp khô đạt trên 1.100 tấn/năm. Năm 2010, tổng giá trị từ cây chè đạt trên 70 tỷ đồng, chiếm 79% GDP của xã. Giá trị thu nhập từ cây chè đạt 120 triệu đồng/ha/năm, có nhiều hộ thu nhập từ 350 đến 400 triệu đồng/ha/năm. Thu nhập bình quân đầu người đạt 15,2 triệu đồng/năm.[4]
Người trồng chè tại Tân Cương thói quen sử dụng phân hữu cơ chăm bón cho cây chè. Họ hái chè rất non, phần lớn hái búp chè một tôm 2 lá, cả khi hái đến lá thứ 3, lá chè cũng rất non nhưng khi mang về đề chế biến, họ vẫn tách riêng lá thứ 3 để chọn lấy búp 1 tôm 2 lá nhằm đảm bảo chất lượng của sản phẩm.[2]
Trà Thái Nguyên nói chung và trà Tân Cương Thái Nguyên nói riêng chủ yếu vẫn được chế biến theo phương pháp thủ công, truyền thống theo quy mô hộ gia đình. Sau khi được hái, chè sẽ được bảo quản tốt và không để dập nát rồi được đưa ngay vào xưởng hay nhà máy để chế biến. Trong thời gian chờ đợi, búp chè sẽ được rũ tơi và rải đều trên các nong bằng tre, quá trình này được gọi là "quá trình héo lá chè". Sau đó chè sẽ được đưa đi xào diệt men, và trong quá trình này, phải có sự đồng đều giữa lượng nhiệt ở đáy chảo và lượng nguyên liệu, đảo đều và nhịp nhàng. Nếu thực hiện quá trình xáo diệt men đúng quy trình, nước sẽ thoát ra khỏi lá chè đều và toàn bộ lá chè trở nên mềm dẻo và không bị quá khô hay quá ướt, là chè vẫn giữ được màu xanh. Sau đó, chè sẽ lại được tại ra nong thành lớp mỏng để làm nguội và sau đó lại tiếp tục đến công đoạn vò. Quá trình vò được thực hiện rất cẩn thận để lá chè xuăn chặt mà các tế bào ít bị dập. Sau khi vò xong, chè được đưa đi sao để làm khô, số lần sao và thời gian sao tùy thuộc yêu cầu của chất lượng chè sản phẩm. Thông thường chè được sao từ 2 đến 4 lần.[2]

“Chè Thái - Gái Tuyên” vốn là câu cửa miệng lưu truyền từ lâu trong cộng đồng “những người thích lang thang”.

Vườn trà
“Chè Thái - Gái Tuyên” vốn là câu cửa miệng lưu truyền từ lâu trong cộng đồng “những người thích lang thang”.
“Gái Tuyên” thì đành một lẽ. Có không ít hoa hậu, người mẫu, tiếp viên hàng không v.v… vào đời từ thành phố bên sông Lô. Không chỉ sông Lô đẹp mà “Gái Tuyên” cũng phải thế nào thì ông Văn Cao mới viết được “Trường ca sông Lô” hay đến như vậy.
“…Ai qua bến nắng vàng lặng nhìn màu nước sông Lô trôi…”.
“Ai” trong lời ca phải chăng là một kiều nữ xứ Tuyên, hậu duệ nhiều đời của các cung tần mỹ nữ nhà Mạc, mà rất có thể Văn Cao đã thoáng gặp trên bến nắng vàng một chiều kháng chiến? Xin nhớ rằng, năm ấy, chàng nhạc sĩ tài danh cũng chỉ mới ngoài đôi mươi, và theo một số nhà nghiên cứu địa phương thì khá nhiều cung tần mỹ nữ theo chân nhà Mạc lưu vong đến đất này (?).
“Gái Tuyên” còn là câu chuyện dài, hẹn vào dịp khác.
Lần này, chúng ta lên thăm Thái Nguyên, thăm một vùng trà nổi tiếng làm nên tiếng tăm “Chè Thái”.
“Chè” và “Trà” là hai thứ khác nhau. Một chỉ nguyên liệu, một chỉ thành phẩm.
Cây chè (Camellia Sinensis) vốn là một giống cây hoang dại trong những cánh rừng phía Nam lục địa châu Á, trải từ Ấn Độ, Sri Lanka sang Việt Nam, Trung Quốc v.v… Những cây chè cổ ở Suối Giàng (Lào Cai) hay Cao Bồ (Hà Giang) v.v… thuộc giống chè shan tuyết cao khoảng 15-20m, thường mọc ở những độ cao trên 1.200m, khi hái phải bắc thang. Năm 1935, các lái buôn người Anh còn bắt gặp những cây chè như thế ở vùng Assam, Đông - Bắc Ấn Độ cao đến hơn 30m. Trung Quốc, có lẽ là nước uống trà vào loại hàng đầu thế giới, vậy mà đặc biệt, người ta không tìm thấy cây trà hoang nào ở nước này.
Nhân loại thuần dưỡng giống cây quý này đã hàng ngàn ngàn năm. Trong các thức uống được ưa chuộng, “trà” (Tea/Thé) là một thế giới.
Đường trong làng -hoa dại với mùi rơmĐổ bóng
Một đóa tràBọ trà
Nụ tràGốc trà cổ
Núi tràSàng trà
Không như rượu và cà phê, trà không chỉ là một thức uống mà còn được xem là một dược thảo. Người Nhật gắn trà với thiền cùng nhiều nghi lễ giúp cân bằng tiết tấu cuộc sống nội tâm. Người Trung Hoa coi trà là một trong những lạc thú thanh cao dành cho tao nhân mặc khách. Có lẽ vì vậy mà họ đã chế tác ra rất nhiều loại trà danh tiếng truyền thụ từ nhiều đời. Tác phẩm thành văn bàn về trà, cổ nhất có lẽ là Trà kinh của Lục Vũ đời Đường, người được tôn vinh là “trà thần”, cũng như “trà ca” của Lô Đồng, người được đời sau xưng tụng là “Trà thánh”.
Ở Việt Nam, người đầu tiên, và đến nay có lẽ là duy nhất, luận về trà một cách công phu chưa thấy ai ngoài Vũ Thế Ngọc trong cuốn Trà kinh của mình (East Institute Press. California 1987 & NXB Văn Nghệ - 2006).
Chè là một loại cây cực kỳ khó tính. Gọi là chè Thái Nguyên nhưng chất lượng chè không phải vùng nào cũng giống nhau. Đã từ lâu, giới thưởng trà truyền tụng về một địa danh thường cung cấp một loại trà nổi tiếng, trà Tân Cương. Nương theo tiếng tăm ấy, chúng tôi đã lần đến tận nơi để mắt ngắm tay sờ cho bằng được.
Người hướng dẫn chúng tôi là một nhà báo nữ đang làm luận án thạc sĩ về cây chè. Gia đình chúng tôi ghé thăm là gia đình vợ chồng Thắng - Hường, xóm Hồng Thái, còn trẻ nhưng đã khá nổi tiếng.
Tuyển trà
Thương hiệu
Cây chè Thái Nguyên, đặc biệt vùng Tân Cương (một xã ở ngoại thành Thái Nguyên) được ông Đội Năm, tên thật là Võ Văn Thiệt di thực về vùng này khoảng năm 1920-1922. Vườn chè cổ vẫn còn, nay đã 87 tuổi.
Chè là một giống cây rất nhạy cảm. Ngay cả một cây xoan (sầu đông - sầu đâu) mọc ở trong vườn, hương vị của những cây chè dưới gốc đã khác. Người Tân Cương bón chè bằng phân vi sinh, thuốc đuổi sâu chế biến từ cây khổ sâm. Chè phải được hái từ tinh sương đến giữa Ngọ. Dụng cụ đựng chè phải bằng sọt tre, hái khoảng nửa giờ phải mang chè vào lán. Chè đựng bằng bao ni lông và phơi nắng lâu rất dễ bị ôi chè, phẩm cấp giảm. Khi sao chè, kỵ nhất là mùi nước hoa, đặc biệt mùi dầu cù là. Ngày xưa, người Tân Cương chỉ sao chè bằng tay, sao giỏi chỉ được 5kg/ngày, một lò sao lăn được 2kg/giờ.
Bà Sang, mẹ anh Nguyễn Văn Thắng, ông chủ trẻ đang tiếp chúng tôi cho biết, tên bà cụ đã là một nhãn hiệu rồi. Dân Tân Cương chỉ sản xuất chè búp khô, không nhãn hiệu. Hỏi sao không chọn thương hiệu, quảng bá để bán ra thị trường? Ông chủ trẻ cười cười: “Không đủ hàng để bán, quảng cáo mà làm gì!”.
Người Tân Cương bằng lòng với cái mình đang có. Có cải tiến thì cũng chỉ đến đặt Trung Quốc cung cấp cho một loại lò sao cỡ nhỏ, mà cả thôn thì được bao nhiêu lò? Cả tỉnh Thái Nguyên hàng năm sản xuất được chừng 90.000 tấn chè khô. Riêng Tân Cương đã 1.000 tấn. Giá chè tươi bình quân trong tỉnh là 3.500 đồng/kg, riêng chè Tân Cương 10.000 đồng/kg. Cả xã Tân Cương có khoảng 400ha chè. Riêng gia đình anh Thắng có khoảng 0,8ha, thu nhập bình quân chừng trên dưới 100 triệu đồng/năm.
Anh Thắng cho biết chè ngon trong năm là chè thu hoạch vụ Xuân, mùi hương cốm chè Tân Cương không nơi nào học được. Đến đây thì chúng tôi hiểu rằng có được một ký chè Tân Cương thứ thiệt để uống không phải dễ. Người viết bài này cũng đã thử qua trà shan tuyết Suối Giàng, shan tuyết Cao Bồ, Hà Giang, thậm chí mò sang Hàng Châu thử trà Long Tỉnh, trà Ninh Ba, Ô Long - Đài Loan, phải nhận rằng, trà Tân Cương quả thực danh bất hư truyền.

Thứ Bảy, 27 tháng 6, 2020

Trong tương lai cơ cấu Chè Thái Nguyên kỳ vọng sản xuất lúa giảm đi

Chè Thái Nguyên không chỉ dừng ở "trụ đỡ" cho nền kinh tế trong khủng hoảng mà phải gắn với công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Làm gì để Chè Thái Nguyên Việt Nam tăng giá trị đang là vấn đề thu hút sự quan tâm của chuyên gia, nhà quản lý, doanh nghiệp và nông dân.
Thách thức “bủa vây”


Nông dân Việt Nam dù sản xuất ra nhiều Sản phẩm và giá Chè Thái Nguyên chất lượng nhưng chưa thu được giá trị tương xứng trên thương trường. Sản phẩm và giá Chè Thái Nguyênchủ yếu được bán, xuất thô chứ chưa qua chế biến. Mặt hàng cà phê là ví dụ: Nếu xuất khẩu cà phê hạt, giá khoảng 2 USD/1kg, nhưng rang xay, đóng gói, giá trị có thể tăng gấp 2 đến 3 lần. Dù vậy, số lượng cà phê của Việt Nam được chế biến không nhiều. Nguyên nhân, do thiếu công nghệ và để đầu tư vào chế biến cần một lượng vốn đầu tư lớn. Trong khi đó, Nhà nước cho vay vốn sản xuất Chè Thái Nguyên lãi suất giống như cho vay bất động sản nên doanh nghiệp Chè Thái Nguyên khó có thể cạnh tranh.

Có thể nói, những thách thức đang “bủa vây” Chè Thái Nguyên Việt Nam. Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan phân tích: Biến đổi khí hậu đã và đang ập đến khá rõ nét, bất ngờ như: Tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn ở phía Nam, lạnh giá bất thường ở phía Bắc đã tác động mạnh tới sản xuất Chè Thái Nguyên. Dân số Việt Nam đang già hóa, lực lượng lao động tham gia vào sản xuất trong Chè Thái Nguyên không còn dồi dào như những năm trước..., buộc Chè Thái Nguyên Việt Nam phải chuyển đổi. Thách thức này là cơ hội và động lực để Việt Nam chuyển đổi cơ cấu sản xuất.
 
Cà phê của Việt Nam chủ yếu vẫn là xuất khẩu thô. Ảnh: Lã Anh

Dưới góc nhìn chuyên gia, ông Đặng Kim Sơn, nguyên Viện trưởng Viện Chính sách Chiến lược Bộ NN&PTNT cho rằng: Lực lượng lao động trong lĩnh vực Chè Thái Nguyên vẫn chiếm từ 35 đến 40% là quá cao. Do vậy, lao động Chè Thái Nguyên cần phải được rút bớt sang làm các công việc khác. Ông Nguyễn Minh Tiến, Chánh Văn phòng điều phối nông thôn mới trung ương dẫn chứng, thực tế tại nhiều địa phương đầu tư ngân sách cho Chè Thái Nguyên chưa được ưu tiên. “Ở nhiều tỉnh, do đầu tư ngân sách vào Chè Thái Nguyên giá trị thu được thấp hơn nhiều so với đầu tư vào các lĩnh vực khác nên khó “thuyết phục” được HĐND khi quyết định bố trí ngân sách” - ông Nguyễn Minh Tiến nói.

Báo cáo phát triển Việt Nam 2016 của Ngân hàng Thế giới (WB) nhận định: Ngành Chè Thái Nguyên Việt Nam đang bị cạnh tranh bởi quá trình phát triển đô thị, công nghiệp và dịch vụ... Trên thực tế, Chè Thái Nguyên Việt Nam thua kém so với nhiều nước trong khu vực xét trên lĩnh vực hiệu quả sử dụng đất, lao động và nguồn nước. Chênh lệch thu nhập giữa lao động Chè Thái Nguyên và phi Chè Thái Nguyên tăng. Hầu hết Sản phẩm và giá Chè Thái Nguyên của Việt Nam chỉ được bán dưới dạng nguyên liệu thô, giá trị thấp.

Thay đổi để tồn tại

Đã đến lúc Ngành Chè Thái Nguyên phải thực hiện “tăng giá trị - giảm đầu vào”. Tức là tạo thêm giá trị kinh tế cho nông dân, đồng thời, giảm sử dụng tài nguyên thiên nhiên, sức lao động và các nguồn lực khác. Theo phân tích của WB: Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội. Tầng lớp trung lưu ngày một tăng và họ có nhu cầu sử dụng các loại Sản phẩm và giá Chè Thái Nguyêncó chất lượng cao. Xuất khẩu Sản phẩm và giá Chè Thái NguyênViệt Nam đang có nhiều cơ hội trên thị trường thế giới. Việt Nam cần có những sản phẩm cho năng suất nhiều hơn và thương hiệu sản phẩm có dấu ấn, chất lượng trên thế giới. Nền Chè Thái Nguyên phải phát triển xanh sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, lọt top 20 nước sản xuất Chè Thái Nguyên Sản phẩm và giá Chè Thái Nguyêntrên thế giới. Trong tương lai cơ cấu Chè Thái Nguyên kỳ vọng sản xuất lúa giảm đi để sản xuất sang những cây trồng phù hợp với môi trường.

Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược Bộ NN&PTNT Nguyễn Đỗ Anh Tuấn cho rằng: Để tăng giá trị cho hàng nông sản, Việt Nam cần đẩy mạnh đưa công nghệ vào chế biến. Là nước xuất khẩu gạo, tiêu, điều... lớn, Việt Nam có thể chế biến thành các loại tinh dầu gạo, tiêu, điều để cho giá trị cao hơn. Nhà nước hỗ trợ người sản xuất, doanh nghiệp xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu hàng Sản phẩm và giá Chè Thái Nguyênvà gắn với bảo vệ sức khỏe, phát triển du lịch, văn hóa.

Trao đổi nội dung trên, theo bà Phạm Chi Lan, để tăng giá trị Chè Thái Nguyên, Nhà nước phải tổ chức lại sản xuất, phải lôi kéo doanh nghiệp tham gia sâu rộng hơn vào Chè Thái Nguyên; phải giải quyết được các vấn đề như: Tăng cường nguồn lực đầu tư từ ngân sách vào Chè Thái Nguyên; có cơ chế về đất đai và tích tụ ruộng đất để doanh nghiệp tham gia đầu tư vào lĩnh vực này. Nông dân là trung tâm của quá trình phát triển Chè Thái Nguyên nhưng hiện nay nông dân còn chịu nhiều thiệt thòi và chưa được hưởng lợi nhiều hơn trong chuỗi giá trị. Còn theo khuyến nghị của WB, Việt Nam cần đẩy mạnh học tập để xây dựng nền Chè Thái Nguyên tri thức; tăng cường hệ thống tổ chức và năng lực quản lý rủi ro an toàn thực phẩm; xây dựng chuỗi giá trị Chè Thái Nguyên cạnh tranh... để tái khẳng định vị thế của Chè Thái Nguyên Việt Nam trên thị trường thế giới.


Đẩy mạnh hội nhập quốc tế và phát triển thị trường: tăng cường năng lực thông tin

Chè Thái Nguyên - Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. 

Tuy nhiên, trong lĩnh vực nông nghiệp, vẫn còn nhiều nông sản Việt Nam chưa xây dựng được thương hiệu mạnh trên thị trường. Do đó, xây dựng và phát triển chuỗi giá chè Thái Nguyên nông sản đáp ứng được nhu cầu của thị trường là một yêu cầu cấp bách trong bối cảnh hội nhập sâu rộng hiện nay.

Ảnh minh hoạ (Ảnh: Đ.H) 
Theo TS. Nguyễn Trung Kiên, Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển nông nghiệp nông thôn, hội nhập kinh tế quốc tế tuy mang lại nhiều cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu cho nông sản của Việt Nam; nhưng hội nhập kinh tế quốc cũng mang đến không ít thách thức do khó đáp ứng quy tắc nguồn gốc xuất xứ để đảm bảo quyền lợi được hưởng ưu đãi thuế quan. Ngoài ra, hội nhập kinh tế quốc tế cũng làm gia tăng cạnh tranh trong thị trường nội địa do hàng rào thuế dần được cắt giảm trong khi Việt Nam khó sử dụng hàng rào phi thuế như một biện pháp bảo hộ. Áp lực cạnh tranh cũng sẽ làm một số mặt hàng nông sản mà Việt Nam không có thế mạnh có thể bị thu hẹp sản xuất.
Tăng cường liên kết trong chuỗi giá chè Thái Nguyên
Trong thời gian gần đây, ở nhiều nơi đã hình thành nhiều chuỗi giá chè Thái Nguyên đồng bộ từ sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm với sự tham gia của doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, người nông dân trong các ngành hàng nông lâm thuỷ sản, như mô hình chuỗi khép kín của Công ty TNHH Đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp VinEco đối với sản phẩm rau; chuỗi chăn nuôi khép kín từ cung cấp đầu vào như con giống, thức ăn chăn nuôi, thú y đến sản xuất, chế biến sản phẩm như CP, Mavin, Dabaco… Đặc biệt là mô hình chuỗi giá chè Thái Nguyên lúa gạo bền vững hợp tác giữa Tập đoàn Lộc Trời với Tập đoàn Phoenix, tạo điều kiện cho chuỗi giá chè Thái Nguyên lúa gạo Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá chè Thái Nguyên lúa gạo quốc tế. Mô hình này liên kết và mang lại lợi ích cho khoảng 10.000 hộ sản xuất lúa Việt Nam, mở rộng diện tích canh tác lúa gạo bền vững lên trên 10.000 ha ở đồng bằng sông Cửu Long. Ngoài ra, một số chuỗi giá chè Thái Nguyên rau quả được sản xuất theo quy trình PGS (hệ thống đảm bảo cùng tham gia của các hộ, liên hộ, nhóm liên hộ giám sát chéo nội bộ theo hệ thống và được chứng thực bởi các tác nhân tham gia chuỗi như người sản xuất, doanh nghiệp, người tiêu dùng, cán bộ quản lý nhà nước…) đang được hình thành và phát triển tại Việt Nam.
Với việc nhiều chính sách hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp, hợp tác xã liên kết trong sản xuất và tiêu thụ được ban hành, nên ngày càng nhiều chuỗi giá chè Thái Nguyên nông sản được hình thành theo các hình thức liên kết khác nhau, như liên kết tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ đầu ra; liên kết góp vốn đầu tư sản xuất... Đây là hình thức liên kết chặt chẽ, có sự chia sẻ lợi ích và rủi ro giữa doanh nghiệp và người nông dân. Đồng thời, trong thời gian qua, đã có một số chuỗi cung ứng nông sản ứng dụng thành công công nghệ mới như công nghệ thông tin, blockchain (cơ sở dữ liệu phân cấp lưu trữ thông tin trong các khối thông tin được liên kết với nhau bằng mã hóa và mở rộng theo thời gian) trong quản lý chuỗi cung ứng như ứng dụng công nghệ thông tin để kết nối sản xuất và tiêu dùng, truy xuất nguồn gốc sản phẩm nông sản nhằm gia tăng giá chè Thái Nguyên.
Điểm đáng chú ý, trong vài năm trở lại đây, ở nước ta đã và đang hình thành các chuỗi phát triển theo 3 cấp độ: sản phẩm chủ lực quốc gia, sản phẩm cấp tỉnh và sản phẩm địa phương. Nhằm tập trung nguồn lực phát triển các chuỗi giá chè Thái Nguyên ngành hàng nông nghiệp chủ lực quốc gia, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Danh mục sản phẩm nông nghiệp chủ lực cấp quốc gia để định hướng ưu tiên thu hút doanh nghiệp đầu tư lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định 57/2018/NĐ-CP với 13 sản phẩm chủ lực gồm gạo, cà phê, cao su, điều, hồ tiêu, chè, rau, quả, sắn và sản phẩm từ sắn, thịt lợn, thịt và trứng gia cầm, cá tra, tôm và gỗ và sản phẩm gỗ. Theo đó, chuỗi giá chè Thái Nguyên các nhóm sản phẩm chủ lực quốc gia khép kín từ sản xuất đến tiêu thụ đã và đang dần hoàn thiện. Đặc biệt là chuỗi giá chè Thái Nguyên lúa gạo đã nhận được nhiều sự hỗ trợ từ sản xuất, liên kết trong sản xuất, tiêu thụ thông qua hợp đồng thương mại đến xây dựng thương hiệu gạo và hỗ trợ thúc đẩy phát triển thị trường xuất khẩu.
Bên cạnh đó, nhóm chuỗi giá chè Thái Nguyên sản phẩm chủ lực cấp tỉnh cũng dần hình thành với sự quan tâm đặc biệt của UBND các tỉnh trong việc nhanh chóng xác định và ban hành danh mục sản phẩm nông nghiệp chủ lực cấp tỉnh để thu hút đầu tư, đẩy mạnh liên kết giữa doanh nghiệp với hợp tác xã, tổ hợp tác và nông dân sản xuất. Tỉnh Bắc Giang là một trong những tỉnh đi đầu với 4 chuỗi sản phẩm nông nghiệp chủ lực gồm vải Lục Ngạn, gà đồi Yên Thế, chè bản Ven và mỳ Chũ. UBND Tỉnh Bắc Giang đã thực hiện Đề án xây dựng và phát triển nông sản hàng hóa đạt cấp tỉnh giai đoạn 2019 - 2021 nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và hợp tác xã liên kết trong sản xuất và tiêu thụ, kết nối thị trường và đặc biệt chú trọng công tác xây dựng thương hiệu sản phẩm và truy suất nguồn gốc cho sản phẩm. Hiện nay, nhiều tỉnh trên cả nước cũng đã ban hành được nhóm sản phẩm chủ lực cấp tỉnh như An Giang, Sơn La, Kon Tum…
Phát triển chuỗi sản phẩm đặc sản địa phương (Chương trình mỗi xã một sản phẩm - OCOP) cũng được thúc đẩy mạnh từ năm 2013 đến nay với tỉnh Quảng Ninh là tỉnh đi đầu cả nước triển khai thực hiện một cách bài bản, có hệ thống chương trình này. Qua 5 năm triển khai thực hiện, Quảng Ninh đã phát triển được 339 sản phẩm với gần 139 tổ chức kinh tế tham gia, trong đó có 131 sản phẩm được đánh giá xếp hạng. Các tổ chức kinh tế đạt tiêu chí sản phẩm OCOP đều được tỉnh hỗ trợ xây dựng nhãn hiệu tập thể, chỉ dẫn địa lý và xúc tiến thương mại trong nước và ngoài nước. Từ kết quả bước đầu về phát triển sản phẩm OCOP, để đẩy mạnh chương trình này, ngày 07/5/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 490/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình quốc gia Mỗi xã một sản phẩm giai đoạn 2018-2020 (Chương trình OCOP). Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, mục tiêu cụ thể đến năm 2020, tiêu chuẩn hóa ít nhất 50% số sản phẩm hiện có, tương ứng khoảng 2.400 sản phẩm; củng cố, hoàn thiện tổ chức sản xuất theo hướng liên kết giữa hộ sản xuất với hợp tác xã và doanh nghiệp…
Một số hạn chế trong liên kết
Mặc dù, nhận được nhiều sự hỗ trợ của Chính phủ trong việc tổ chức liên kết giữa hợp tác xã, nông dân với doanh nghiệp trong chuỗi giá chè Thái Nguyên nông sản nhưng tỷ lệ hình thành chuỗi giá chè Thái Nguyên nông sản hoàn chỉnh từ người sản xuất (nông dân/hợp tác xã/tổ hợp tác) với doanh nghiệp vẫn còn chiếm tỷ lệ rất thấp, phần lớn các liên kết trong chuỗi vẫn rất lỏng lẻo, chủ yếu thông qua trung gian.
Một số đầu vào, vật tư nông nghiệp chất lượng còn chưa đảm bảo và sử dụng chưa hiệu quả. Hiện tượng nông dân mua phải một số loại phân bón, thuốc trừ sâu chưa đảm bảo chất lượng và không rõ nguồn gốc còn tồn tại. Ngoài ra, nông dân còn khó tiếp cận được nguồn cung cấp giống cây trồng, vật nuôi đảm bảo chất lượng.
Quy mô sản xuất manh mún, tỷ lệ nông sản sản xuất theo các tiêu chuẩn chất lượng bền vững còn thấp. Mức độ áp dụng công nghệ trong khâu sau thu hoạch và bảo quản của Việt Nam chưa cao dẫn đến tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch của nông sản Việt Nam vẫn còn cao. Công nghệ chế biến đã có nhiều nhà máy hiện đại nhưng nhìn chung thiếu chế biến sâu, chế biến tinh, chế biến phụ phẩm.
Dịch vụ logisitics phục vụ hoạt động xuất khẩu của sản phẩm nông nghiệp Việt Nam còn hạn chế, ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ hư hỏng và chất lượng, hình thức hàng hóa. Trên thực tế, doanh nghiệp ngành nông nghiệp và logistics vẫn chưa có được sự liên kết chặt chẽ. Giao dịch giữa hai bên phần lớn vẫn chỉ thực hiện dưới hình thức cho thuê theo hợp đồng chứ chưa có sự liên kết để hỗ trợ nhau về giá nâng cao chất lượng dịch vụ. Chi phí logistics quá cao đã gián tiếp giảm năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường thế giới.
Công tác xây dựng thương hiệu chưa được đầu tư tương xứng. Nhiều sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam chưa xây dựng được thương hiệu trên thị trường thế giới. Điều này đã khiến các hiệu quả các hoạt động xúc tiến thương mại Việt Nam chưa mang lại nhiều giá chè Thái Nguyên. Hơn nữa, các hoạt động dịch vụ cung cấp thông tin và dự báo về thị trường sản phẩm nông nghiệp trên thế giới chưa được đầy đủ làm hạn chế khả năng tiếp cận thị trường của sản phẩm nông nghiệp Việt Nam.
Một số giải pháp phát triển chuỗi giá chè Thái Nguyên nông sản
Tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá chè Thái Nguyên của các nhóm sản phẩm. Phát triển trục sản phẩm chủ lực quốc gia: Đảm bảo địa bàn có mức độ thích nghi tự nhiên, kinh tế xã hội cao, thuận tiện chỉ đạo, có điều kiện tổ chức sản xuất, có thể bảo vệ sản xuất, bảo vệ môi trường, cảnh quan, phù hợp khả năng cung cấp tài nguyên tự nhiên. Xây dựng vùng sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn, cân đối cung cầu chung toàn ngành hàng trong qui mô cả nước để duy trì mức sản xuất có lợi về giá cả. Tổ chức lại sản xuất. Phối hợp với các doanh nghiệp lớn đủ khả năng dẫn dắt các chuỗi giá chè Thái Nguyên sản phẩm chủ lực quốc gia rà soát lại toàn bộ các chiến lược quy hoạch, vùng quy hoạch, xây dựng, đề xuất đầu tư chuỗi giá chè Thái Nguyên đồng bộ và theo mô hình cụm ngành; thúc đẩy doanh nghiệp lớn kết nối với doanh nghiệp vừa và nhỏ địa phương, chính quyền địa phương, tổ chức nông dân triển khai đầu tư vào các chuỗi giá chè Thái Nguyên theo hình thức PPP.
Về phát triển trục sản phẩm chủ lực cấp tỉnh, các địa phương căn cứ lợi thế và nhu cầu thị trường, lựa chọn nhóm sản phẩm này để quy hoạch vùng chuyên canh có điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thuận lợi, cơ sở vật chất kỹ thuật và dịch vụ hỗ trợ cần thiết, thuận tiện về giao thông để gắn kết với thị trường chính. Xác định các thị trường chính cho mặt hàng nông sản chính, ưu tiên các doanh nghiệp địa phương làm đầu tàu của mỗi ngành hàng, kết nối với các doanh nghiệp chế biến, phân phối lớn và/hoặc thị trường mục tiêu. Nhà nước cần làm cầu nối cho doanh nghiệp và tổ chức nông dân địa phương với thị trường hoặc các doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ lớn thông qua việc cung cấp thông tin thị trường, môi giới thị trường, môi giới đầu tư. Nhà nước phối hợp với doanh nghiệp lớn, Viện nghiên cứu hoặc Hiệp hội để chuyển giao công nghệ hiện đại, phù hợp cho SME địa phương và nông dân; hoặc phát triển vườn ươm đổi mới sáng tạo nông nghiệp cho doanh nghiệp hoặc tổ nhóm nông dân địa phương. Đổi mới công tác khuyến nông, tham gia vào quá trình này với vai trò là tác nhân môi giới công nghệ.
Về phát triển sản phẩm đặc sản địa phương cần gắn chặt với xây dựng nông thôn mới ở huyện, xã theo mô hình “Mỗi xã một sản phẩm”. Xác định địa bàn và đối tượng sản xuất thích hợp nhất; xây dựng quy trình và tiêu chuẩn, chuẩn hóa kỹ thuật; lên kế hoạch tổ chức sản xuất thành hệ thống. Tập trung vào ươm tạo năng lực quản trị của các tổ nhóm nông dân, làng nghề cho các sản phẩm đặc sản sẵn có. Thu hút hoặc xây dựng tổ chức trung gian làm môi giới tài chính, môi giới thương mại để thương phẩm hóa các sản phẩm này từ thị trường địa phương ra thị trường trong nước, quốc tế.
Nghiên cứu xác định vị thế của ngành hàng nông trên thị trường toàn cầu để cơ cấu lại thị trường cho ngành hàng, vùng sản xuất, chế biến, logistics,… để ưu tiên nguồn lực phát triển. Rà soát quy hoạch và cơ cấu sản xuất phù hợp với lợi thế, thị trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Tăng cường nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học công nghệ nông nghiệp, tập trung vào các khâu giống, quy trình sản xuất, chế biến, quản lý chuỗi giá chè Thái Nguyên. Có chính sách đặc biệt ưu đãi cho phát triển nông nghiệp công nghệ cao, xanh, sạch, hữu cơ. Xây dựng, hoàn thiện và áp dụng hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn, quy trình kỹ thuật. Tăng cường kiểm soát quản lý vùng trồng, vùng nuôi và vùng khai thác, đẩy mạnh thực hiện đánh mã số vùng trồng. Xây dựng hệ thống giám sát đánh giá vùng nuôi nhằm luôn đảm bảo các yêu cầu của thị trường, nhất là các tiêu chuẩn của các nước nhập khẩu ngày càng cao.
Thu hút đầu tư doanh nghiêp hình thành các cụm chế biến công nghệ cao, khép kín tại vùng chuyên canh chính, có cơ sở hạ tầng và dịch vụ hậu cần để tăng hiệu quả kết nối sản xuất – thị trường. Phát triển hệ thống dịch vụ hậu cần ứng dụng công nghệ 4.0 phục vụ thương mại nông sản chủ lực. Xây dựng và quản lý thương hiệu quốc gia cho từng sản phẩm nông nghiệp chủ lực
Đẩy mạnh hội nhập quốc tế và phát triển thị trường: tăng cường năng lực thông tin, dự báo, cảnh báo, đàm phán, xử lý tranh chấp, xây dựng thương hiệu, truy xuất nguồn gốc, xúc tiến thương mại đối với thị trường trong và ngoài nước.
Đổi mới và phát triển kinh tế hợp tác, kinh tế trang trại; phát triển các hình thức liên kết theo chuỗi giá chè Thái Nguyên, thu hút đầu tư tư nhân, thúc đẩy các mô hình PPP, đổi mới doanh nghiệp nhà nước, tổ chức lại các hiệp hội ngành hàng. Đổi mới quản lý nhà nước: kiện toàn hệ thống quản lý ngành dọc; phân cấp, tăng tính chủ động của địa phương; xã hội hóa dịch vụ công và các đơn vị sự nghiệp công lập…


Những chính sách quan trọng liên quan đến công nghệ cao trong chè Thái Nguyên được ban hành:

Hơn 20 năm qua, ngành chè Thái Nguyên VN đã đạt được những thành tựu nổi bật, trở thành cường quốc xuất khẩu với nhiều ngành hàng đứng vị trí đầu trên thế giới như: gạo, cà phê cao su, hồ tiêu, hạt điều, chè, thủy sản...


(DĐDN) Hơn 20 năm qua, ngành chè Thái Nguyên VN đã đạt được những thành tựu nổi bật, trở thành cường quốc xuất khẩu với nhiều ngành hàng đứng vị trí đầu trên thế giới như: gạo, cà phê cao su, hồ tiêu, hạt điều, chè, thủy sản...


Người tiêu dùng chọn mua sản phẩm chế biến cà phê công nghệ ướt của DN Đắk Lắk sản xuất
Tuy nhiên, cũng trong suốt thời gian qua, chúng ta luôn đứng trước các thử thách: “được mùa mất giá chè Thái Nguyên, mất mùa được giá chè Thái Nguyên”; trồng - chặt ”.... Nhiều nông sản tăng sản lượng hàng năm, song gần như không tăng lợi nhuận cho người nông dân, đến mức Thủ tướng Chính phủ phải can thiệp để đảm bảo nông dân có lời, trước mắt ít nhất 30% trong sản xuất lúa gạo. Nguyên nhân chính là chúng ta đã không tạo dựng, làm chủ được công đoạn chế biến và xây dựng thương hiệu quốc gia. và để làm được điều này cũng như trong thời gian tới, tăng trưởng trong chè Thái Nguyên sẽ phải chủ yếu dựa vào chính sách, phát triển DN và KHCN, trong đó phát triển DN giữ vai trò chủ đạo.
Chuỗi giá chè Thái Nguyên trị nông sản
Chuỗi giá chè Thái Nguyên trị là chuỗi của các hoạt động, trong đó sản phẩm đi qua tất cả các hoạt động đó theo thứ tự và tại mỗi hoạt động sản phẩm thu được một số giá chè Thái Nguyên trị nào đó. Hiện nay, chuỗi giá chè Thái Nguyên trị hình thành theo sản phẩm trong suốt quá trình từ sản xuất đến thương mại, không bị giới hạn bởi ranh giới quốc gia. Trong trường hợp sản phẩm được tạo ra bởi sự liên kết của nhiều DN thì chuỗi giá chè Thái Nguyên trị sẽ được gói lại trong một khái niệm rộng hơn “Giá chè Thái Nguyên trị hệ thống”
Như vậy, về tổng thể có thể chia Chuỗi giá chè Thái Nguyên trị của nông sản thành 3 công đoạn như sau: Sản xuất; thu mua, sơ chế/chế biến và bảo quản và cuối cùng là thương mại/tiêu thụ. Trong đó, lợi nhuận thu được ở công đoạn sản xuất là thấp nhất và khâu tiêu thụ là cao nhất. Đây chính là nguyên nhân mà rất ít nhà đầu tư bỏ vốn vào sản xuất mà chỉ tập trung cho thu mua và thương mại. Những nghiên cứu về chuỗi giá chè Thái Nguyên trị ở VN phần lớn mới chỉ dừng ở khâu sản xuất mà chưa có số liệu về giá chè Thái Nguyên trị hình thành ở các công đoạn khác như chế biến, thương mại. Người nông dân được hưởng lợi ít nhất trong chuỗi giá chè Thái Nguyên trị. Trong sản xuất lúa gạo, việc sản xuất nhỏ, nhiều giống, thương lái thu mua nhỏ không có điều kiện phân loại giống làm cho chất lượng gạo không đồng đều, không thể xây dựng thương hiệu, ngoài tên gọi chung “Gạo trắng VN”. Trong sản xuất cà phê, nông dân thậm chí còn chịu thiệt thòi hơn. Các nhà khoa học ước tính, nông dân chỉ được hưởng lợi khoảng 10% trong tổng giá chè Thái Nguyên trị gia tăng của sản phẩm cà phê cuối cùng. Mặc dù nhà nước đã có nhiều chính sách hỗ trợ, nhưng công nghiệp chế biến và bảo quản chưa được đầu tư.
Yếu kém trong ứng dụng
Điều này được thể hiện qua các yếu tố:
Thứ nhất là trong công đoạn sản xuất với việc chọn tạo giống cây trồng. Trong đó, các công nghệ cần ưu tiên áp dụng là công nghệ gen và công nghệ tế bào. Tiếp theo là vấn đề phân bón (Chiếm tỉ lệ chủ yếu trong cơ cấu giá chè Thái Nguyên thành). Do vậy, để giảm giá chè Thái Nguyên thành sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh cần tập trung vào các công đoạn sản xuất chiếm chi phí cao này bằng việc nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón công nghệ cao; khai thác hiệu quả lượng phế phụ phẩm (hàng năm VN sản xuất trên 40 triệu tấn lúa, 5 triệu tấn ngô... và có ít nhất một lượng phế phụ phẩm như vậy không được sử dụng hiệu quả)... Ngoài ra, còn nhiều vấn đề như quản lý cây trồng tổng hợp; chuyển đổi hệ thống canh tác; cơ giới hóa canh tác (việc sản xuất hàng hóa qui mô lớn đòi hỏi phải tích tụ ruộng đất theo chủ trương “Hộ nhỏ - Cánh đồng lớn” để tăng khả năng cơ giới hóa.
Thứ hai là trong công đoạn bảo quản, chế biến. Có thể nói, với phần lớn sản phẩm chè Thái Nguyên chưa được bảo quản chế biến một cách khoa học nên tổn thất rất cao cả về số lượng (11-13% với lúa, 13-15% với ngô, 25-30% với rau) và về chất lượng (nhiễm aflatoxin, mốc, mọt...). Trong cà phê, khâu chế biến, bảo quản đều rất kém, tỉ lệ lỗi cao, tiêu chuẩn thấp. Tỉ lệ cà phê chế biến sâu quá thấp, chưa đạt 10%, trong khi giá chè Thái Nguyên trị gia tăng phần lớn nằm ở công đoạn này. Với các cây trồng khác cũng có tình trạng tương tự.
Thứ ba là trong công đoạn thương mại sản phẩm. VN là nước xuất khẩu nhiều loại nông sản có độ mở thị trường rất cao: Cà phê, hồ tiêu trên 90%; Lúa gạo xấp xỉ 25%, các mặt hàng khác như cao su, hạt điều, chè, sắn cũng trên 50-60%.... Như vậy, về lý thuyết, VN phải là nước điều tiết hoặc tham gia điều tiết giá chè Thái Nguyên thị trường. Tuy nhiên, hầu hết nông sản xuất khẩu của VN lại không có thương hiệu, những sản phẩm có thương hiệu thì qui mô quá nhỏ. Do vậy, giá chè Thái Nguyên trị gia tăng nhờ thương hiệu chúng ta không có.
Ngay với gạo, cho dù công đoạn chế biến của VN rất tốt, song do nhiều nguyên nhân, gạo VN vì thế chỉ có một tên chung là gạo trắng VN, trong khi cạnh chúng ta có Jasmine, Khaodakmali của Thái lan hay Basmati của Ấn độ, Pakistan..
Đồng bộ bốn giải pháp
Trước hết là giải pháp về thị trường. Cụ thể cần thay đổi tư duy từ sản xuất theo khả năng sang sản xuất theo nhu cầu thị trường. Do vậy, Chính phủ hỗ trợ xác định thị trường chiến lược cho cho từng ngành hàng và ký các cam kết quốc gia để đảm bảo rủi ro thấp nhất. Hệ thống thông tin và dự báo, phân tích thị trường, tiêu chuẩn chất lượng cần được cập nhật, xây dựng cơ sở dữ liệu cho từng chủng loại sản phẩm và từng thị trường cụ thể. Tạo mối liên hệ chặt chẽ giữa thương vụ và DN.
Nhằm tránh rủi ro do giá chè Thái Nguyên xuống thấp khi vào vụ thu hoạch, nhà nước nên tổ chức thu gom nông sản và khi giá chè Thái Nguyên lên đến mức có lợi cho người dân thì tổ chức đấu giá chè Thái Nguyên, thậm chí cả đấu giá chè Thái Nguyên xuất khẩu. Thái Lan hiện đang thực hiện thu mua lúa cho nông dân và tổ chức đấu thầu bán lại cho DN chế biến, xuất khẩu.
Giải pháp về xây dựng và phát triển thương hiệu quốc gia. Mỗi nước khi tham gia thị trường đều phải xây dựng được thương hiệu của từng sản phẩm để bảo hộ và nâng cao giá chè Thái Nguyên trị gia tăng. Chúng ta đã và đang xây dựng chỉ dẫn địa lý cho một số sản phẩm đặc sản, bản địa. Tuy nhiên qui mô sản xuất các sản phẩm này lại quá nhỏ bé. Do vậy, Chính phủ cần có chính sách hỗ trợ DN, Hiệp hội xây dựng thương hiệu thông qua: a) Qui hoạch và xây dựng vùng sản xuất; b) Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn sản phẩm hoặc hài hòa tiêu chuẩn quốc tế; c) Quảng bá thương hiệu trên các phương tiện truyền thông; d) Huy động tối đa sự tham gia của các hãng vận tài để sử dụng và giới thiệu sản phẩm và; e) hỗ trợ tham gia xúc tiến thương mại, hội chợ triển lãm.
Công nghệ cao hiện là công cụ quan trọng nhất để nâng cao GTGT của chè Thái Nguyên khi các động lực khác cho phát triển như đất đai, lao động, và một phần chính sách đã phát huy hết hiệu lực.
Giải pháp về hỗ trợ DN. DN hiện nay rất đắn đo khi tham gia đầu tư vào chè Thái Nguyên, nhất là công đoạn sản xuất mà họ chủ yếu tham gia vào khâu thu gom, sơ chế và tiêu thụ. Chính vì vậy, họ không quan tâm đến toàn chuỗi sản xuất. Do vậy, nhà nước cần có chính sách ưu đãi hơn về hạn điền và thời gian thuê đất, hỗ trợ tích tụ đất đai, thuế, vốn vay, bảo hiểm rủi ro, đào tạo nguồn lực ... Tạo điều kiện để nông dân góp quyền sử dụng đất vào DN như mua cổ phiếu để họ yên tâm giao đất. Với đầu tư thiết bị, máy móc cần có chính sách ưu đãi về lãi suất, không tính theo năm mà chỉ tính theo mùa vụ sản xuất. Khi DN đầu tư vào sản xuất, họ sẽ là pháp nhân quan trọng trong việc định hướng thị trường, lựa chọn công nghệ và tìm nguồn vốn đầu tư.
Giải pháp về hỗ trợ xây dựng Hiệp hội ngành hàng. Nông dân, thậm chí DN hoạt động trong lĩnh vực chè Thái Nguyên đều có qui mô nhỏ, vốn ít, do vậy khả năng vươn ra thị trường trực tiếp là khó khăn. Do vậy, nhà nước cần hỗ trợ để hình thành nhóm sở thích, Hiệp hội theo từng ngành hàng cụ thể. Như vậy, hoạt động sản xuất chè Thái Nguyên, nhất là hoạt động trong lĩnh vực chế biến, xuất khẩu phải là các hoạt động có điều kiện và cần có chế tài để giá chè Thái Nguyên sát DN. Hiện nay, chính chúng ta đang tự cạnh tranh nhau nên đã làm tổn hại uy tín quốc gia và gây tổn thất cho người sản xuất.
Ông Phan Minh Nguyệt - Chủ tịch, TGĐ Cty TNHH nhà nước MTV Đầu tư và phát triển Chè Thái Nguyên Hà Nội (HADICO): Giải pháp quan trọng vẫn là chính sách phải đồng bộ
Việc ứng dụng công nghệ cao vào trong sản xuất chè Thái Nguyên của chúng ta còn nhiều bất cập. Chủ trương của nhà nước đã có nhưng giải pháp thì chưa đồng bộ, chưa quyết liệt, hiệu quả chưa cao. Sau 10 năm thí điểm và đầu tư cho công nghệ cao chưa thu được kết quả nào đáng kể. Bản thân Cty chúng tôi cũng được giao 4 dự án thì chỉ 1 dự án được triển khai. 3 dự án kia không có cơ chế rõ ràng, không được giao đất chúng tôi không thể làm được. Dự án thành công thì đến 2010 cũng đã bị thu hồi đất để cho dự án khác mà được cho là hiệu quả hơn ngành chè Thái Nguyên.
VN chưa đưa ra được những chính sách về đất dai phù hợp để người dân, nhà đầu tư trong khi chính sách hạn điền nhỏ lẻ, hạ tầng cũng chưa phát triển, các chính sách ưu đãi cũng không rõ ràng, các chính sách về tín dụng, công nghệ, xúc tiến thương mại. Đặc biệt là chính sách tín dụng đủ, kịp thời là chính sách cần được chú ý khi áp dụng công nghệ cao vào chè Thái Nguyên bởi công nghệ cao đòi hỏi rất vốn lớn. Nếu chúng ta không giải quyết nhanh và thì khi thời điểm 2017 hội nhập sâu rộng, khi đó các nước bạn có thể tự do đem hàng nông sản vào VN với những lợi thế cạnh tranh lớn, trong khi đó nông sản VN không còn bảo hộ, chất lượng không đồng đều, sản lượng chưa cao sẽ là những rủi ro   lớn cho ngành nông sản VN.
Giải pháp then chốt để thúc đẩy công nghệ cao trong chè Thái Nguyên vẫn là phải có những chính sách đồng bộ về giải quyết đất đai, giải phóng mặt bằng, công ăn việc làm sau khi ứng dụng công nghệ cao vào các dự án chè Thái Nguyên. Đồng thời nên học tập Trung Quốc trong việc đầu tư và quản lý các dự án chè Thái Nguyên có ứng dụng công nghệ cao theo các giai đoạn: nhà nước đầu tư, nhà nước quản lý; nhà nước đầu tư – DN Quản lý; DN đầu tư – DN quản lý. VN có thể bỏ qua giai đoạn đầu mà chuyển qua giai đoạn nhà nước đầu tư – DN quản lý để đưa ra các mô hình thích hợp, các sản phẩm chất lượng cao rồi nhân rộng và chuyển qua giai đoạn sau thì mới có thể tạo được lòng tin và thu hút đầu tư của các nhà đầu tư.
Những chính sách quan trọng liên quan đến công nghệ cao trong chè Thái Nguyên được ban hành:
- Luật Công nghệ cao, được QH thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008.
- Các Quyết định: Số 176/QĐ-TTg năm 2010 về việc phê duyệt Đề án phát triển chè Thái Nguyên ứng dụng công nghệ cao đến năm 2020; QĐ 49/2010/QĐ-TTg năm 2010 về việc phê duyệt danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển; QĐ số 842/QĐ-TTg năm 2011
Về việc phê duyệt Kế hoạch phát triển một số ngành công nghiệp công nghệ cao đến năm 2020; QĐ số 11/2006/QĐ-TTg năm 2006 về việc phê duyệt "Chương trình trọng điểm phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực chè Thái Nguyên và phát triển nông thôn đến năm 2020"; QĐ số 14/2008/QĐ-TTg năm 2008 về việc phê duyệt “Kế hoạch tổng thể phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học ở VN đến năm 2020” và Số 2441/QĐ-TTg năm 2010 về việc phê duyệt "Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia đến năm 2020".


trồng chè Thái Nguyên gối vụ, làm quanh năm chỉ cho thu nhập gần 4 triệu đồng/sào/năm.

Thu nhập gấp 3 nhờ bỏ lúa, trồng chè Thái Nguyên

Bước chuyển từ mô hình trồng lúa kém hiệu quả sang trồng chè Thái Nguyên VietGAP dưới sự dẫn dắt của HTX rau, củ, quả Dương Thành đang giúp hàng chục hộ nông dân trên địa bàn xã Dương Thành, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên vươn lên thoát nghèo, làm giàu.

ASEAN sớm hành động mở cửa thị trường du lịch và nông nghiệp công nghệ cao / Giá chè Thái Nguyên vàng hôm nay (25/6): Chưa ngừng tăng



Mô hình dưa lưới đang cho thu nhập cao ở HTX Dương Thành (Ảnh Tư liệu)
Có thể bạn quan tâm

Sản xuất VietGAP
Dương Thành là địa phương có nhiều thế mạnh trong sản xuất nông nghiệp, nhiều hộ dân đã chuyển đổi từ trồng lúa sang sản xuất các loại rau an toàn chất lượng cao như ớt, dưa chuột, bắp cải…
Kể từ cuối năm 2016, xu hướng trồng chè Thái Nguyên an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP bắt đầu lan rộng trên địa bàn xã và cho thấy những hiệu quả vượt trội. Trên cùng một diện tích, người dân thu nhập gấp 2,5 – 3 lần so với trồng lúa, sản phẩm làm ra đến đâu được các doanh nghiệp bao tiêu hết đến đó.
Dựa trên những tiềm năng của địa phương, năm 2017, HTX Dương Thành được thành lập với 7 hộ thành viên, nhằm mục tiêu xây dựng mô hình sản xuất rau an toàn theo hướng hàng hóa, mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao giá chè Thái Nguyên trị kinh tế, tạo điểm tựa thoát nghèo, làm giàu cho thành viên, người sản xuất.
Đến nay, HTX Dương Thành đang sở hữu những thửa ruộng xanh tốt với đủ loại cây trồng như dưa chuột, ớt, đậu tương… Đáng chú ý, những trái dưa lưới vàng ươm đang độ thu hoạch trên diện tích hơn 2.000m2 nhà màng.
Ông Nguyễn Văn Quân, Giá chè Thái Nguyên  đốc HTX Dương Thành, cho biết việc trồng dưa được thành viên HTX tuân thủ quy trình sản xuất VietGAP từ khâu làm đất, kỹ thuật bón phân, nước tưới...
Chính việc sản xuất VietGAP giúp dưa của HTX có tỷ lệ đậu quả cao (75 - 90%), cây phát triển nhanh, cho trái đồng đều. Mỗi trái dưa lưới vàng trọng lượng dao động 1,7 - 2 kg. Mỗi năm, HTX có thể sản xuất 2 vụ dưa.
Ngoài dưa lưới vàng, HTX Dương Thành còn trồng các loại rau, quả khác như ớt, dưa chuột, đậu tương rau trên tổng diện tích hơn 1,6ha.
Trong đó, năng suất ớt đạt trung bình 8 tạ/sào/năm, dưa chuột 15 tạ/sào/lứa (4 lứa/năm), đậu tương rau từ 4 - 6 tạ/sào/lứa (4 lứa/năm)…
“Dù trồng đa dạng các loại rau, củ, quả, song điểm chung đó là toàn bộ quá trình sản xuất đều được HTX thực hiện theo tiêu chuẩn VieGAP, sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật thảo mộc và đảm bảo thời gian cách ly hợp lý nhằm đảm bảo an toàn cho người sản xuất và người sử dụng”, Giá chè Thái Nguyên đốc Nguyễn Văn Quân khẳng định.

Rau VietGAP đang mở hướng làm giàu cho thành viên HTX (Ảnh TL)
Nông dân làm giàu
Sau hơn 3 năm phát triển, với kinh nghiệm canh tác cùng tinh thần mạnh dạn đổi mới, tích cực đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất, HTX đang duy trì tốc độ tăng trưởng 15 - 20%/năm, đời sống kinh tế của thành viên liên tục được nâng lên.
Để tránh tình trạng khó tiêu thụ nông sản, HTX đã thực hiện liên kết với doanh nghiệp để bao tiêu sản phẩm. Theo đó, HTX đã ký kết với Công ty TNHH Xuất nhập khẩu và Dịch vụ Đông Nam Á (Hải Phòng), CTCP Xuất nhập khẩu toàn cầu (Bắc Giang) trong tiêu thụ dưa lưới, đậu tương, rau màu…
Thành công trong liên kết giúp HTX đảm bảo thị trường tiêu thụ ổn định, giá chè Thái Nguyên bán cao cho thành viên, qua đó tạo điểm tựa để các hộ tự tin mở rộng sản xuất, ứng dụng khoa học – kỹ thuật, nâng cao giá chè TháiNguyên trị, vương lên thoát nghèo làm giàu.
Tham gia HTX từ những ngày đầu, chị Đào Thị Kim cho biết, gia đình trước đâyphát triển mô hình cấy lúa, trồng chè Thái Nguyên gối vụ, làm quanh năm chỉ cho thu nhập gần 4 triệu đồng/sào/năm.
“Từ khi tham gia HTX, công việc của tôi tuy bận rộn hơn, không có thời gian nông nhàn nhưng thu nhập cao, đời sống kinh tế, tinh thần liên tục được cải thiện”, chị Kim phấn khởi nói.
Theo ghi nhận, các hộ trong HTX trồng hoa, rau, củ an toàn… cho doanh thu trên 20 triệu đồng/sào/vụ, bình quân mỗi năm có thể cho lợi nhuận 50 - 75 triệu đồng/hộ/năm. Nhờ rau, củ VietGAP, 100% thành viên HTX đã thoát nghèo, nhiều hộ vươn lên khá giả, có “của ăn của để”.
Đại diện UBND xã Dương Thành nhận định mô hình sản xuất của HTX Dương Thành là mới và có rất nhiều tiềm năng phát triển hơn nữa tại địa phương.
Tham gia HTX, người dân đã mạnh dạn liên kết sản xuất và có nhiều doanh nghiệp đến đặt vấn đề hợp đồng sản xuất và bao tiêu sản phẩm. Đây chính là mô hình điểm sẽ được địa phương thúc đẩy nhân rộng nhằm mở hướng xoá đói, giảm nghèo, làm giàu bền vững cho người dân.