Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2020

Từ khi tham gia mô hình sản xuất chè thái nguyên hữu cơ, chúng tôi đã thay đổi cách làm

Khó khăn của ngành chè thái nguyên 2020

Hiện nay, diện tích, giá chè thái nguyên của nước ta là gần 130 nghìn ha, sản xuất khoảng 200 nghìn tấn chè khô 1 năm với 400 nghìn lao động. Các vùng chè nổi tiếng cho chất lượng tốt có thể kể đến như chè Thái Nguyên, Lâm Đồng, Sơn La…Khó khăn của ngành chè: Tháng 10-2015, sản lượng xuất khẩu chè đạt 100 nghìn tấn, tức khoảng 170 triệu USD, so với cùng kì năm ngoái đã giảm 9.1% về số lượng và 8.4% về giá trị.

Ngoài ra, có 1 thực tế đáng buồn là giá trị chè của chúng ta chỉ bằng 50-60% giá bình quân của thế giới. Giá thấp so với mặt bằng chung nhưng lại khó tiêu thụ, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến người dân trồng chè trên cả nước.
Thị trường
Rất nhiều diện tích trồng chè đã bị phá bỏ, đặc biệt là ở những vùng chè có tiếng như Lâm Đồng. Các công ty sản xuất chè phải tạm ngừng sản xuất, phần lớn các doanh nghiệp đều phải hoạt động cầm chừng, giảm sản xuất do lượng chè tồn trong kho đã lên đến gần 5000 tấn. So với giá 25 nghìn đồng/1kg vào năm 2014, thì 10 nghìn đồng/1kg của năm nay là 1 cái giá quá bèo bọt và khiến cho hàng nhìn hộ dân lao đao, lỗ vốn.
Khó khăn của ngành chè
Số lượng xuất khẩu lớn nhưng giá trị không tương xứng, khó khăn của ngành chè không chỉ có vậy, chè ô long chỉ xuất khẩu vào Đài Loan, việc này khiến ngành chè phụ thuộc quá lớn vào thị trường. Chỉ cần thị trường Đài Loan ngừng mua chè hoặc yêu cầu kỹ thuật vệ sinh an toàn thực phẩm là đã khiến ngành chè Lâm Đồng điêu đứng. Nhiệm vụ của các công ty, doanh nghiệp kinh doanh, xuất khẩu chè cần làm để tránh rào cản kỹ thuật là cần đàm phán để đảm bảo lợi ích cho cả 2 bên. Có như vậy mới giải quyết được nỗi lo cho người trông chè, tránh tình trạng cây chè bị phá bỏ ngày càng nhiều.
Giá trị và chất lượng chè
Tuy có sản lượng và diện tích trồng chè như ở trên chè sạch ở Thái Nguyên đã nêu, nhưng chè Việt Nam trên thị trường quốc tế vẫn chưa có chỗ đứng bởi chúng ta chủ yếu vẫn xuất khảu chè khô. Trong đó, lượng chè xuất khẩu và các quốc gia khó tính rất ít bởi đòi hỏi tài chính và chất lượng sản phẩm đối với doanh nghiệp rất lớn mà rất ít doanh nghiệp ở Việt Nam có thể đáp ứng được.
Hướng đi
Với hoạt động nhỏ lẻ, chất lượng không ổn định và khó kiểu soát cả về số và lượng như ở Việt Nam hiện nay, rất khó để sản phẩm chè có thể cạnh tranh trên thị trường.
Chính vì vậy, để có thể phát triển lâu dài, ngành chè Việt Nam cần sản xuất tập trung, đúng quy trình sản xuất chè sạch như chè búp Thái Nguyên, an toàn và phải nhận được chứng chỉ công nhận từ quốc tế thì mới có thể vượt qua hàng rào kỹ thuật đến từ các đối tác khó tính. Chỉ có như vậy, ngành chè mới không chịu chung số phận của nông sản Việt, số lượng xuất khẩu lớn nhưng giá trị lại thấp và giảm thiểu tối đa các khó khăn của ngành chè.


Cải tạo nương chè thái nguyên trung du theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng

Sáng 6-6, tại xã Tân Cương, Trạm Khuyến nông T.P Thái Nguyên đã tổ chức Hội thảo đánh giá kết quả thực hiện Dự án “Xây dựng mô hình cải tạo nương chè giống trung du theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng bền vững tại vùng chè Tân Cương Thái Nguyên”.  

Các đại biểu tham quan mô hình cải tạo nương chè trung du của hộ gia đình ông Lê Quang Nghìn, xóm Hồng Thái 2, xã Tân Cương (T.P Thái Nguyên).
Dự án cải tạo nương chè giống trung du theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng bền vững trên địa bàn T.P Thái Nguyên được thực hiện từ tháng 2-2015 đến tháng 6-2017 tại các xã: Tân Cương, Phúc Xuân và Phúc Trìu với quy mô 6ha. Các hộ dân được chọn (23 hộ) tham gia Dự án đều là những hộ có vườn chè giống trung du trồng bằng hạt (đã trồng được từ 25-30 năm). Diện tích chè cải tạo được áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật như đốn, hái hợp lý, bón phân bằng phương pháp rạch hàng giữa các luống chè hoặc cuốc hố sâu từ 6-8cm; trộn đều các loại phân để bón, sau đó lấp kín đất nên cây chè sử dụng phân một cách tối ưu hơn, hạn chế được tình trạng bốc hơi, rửa trôi. Do vậy, nương chè cải tạo có mật độ búp dày hơn, khối lượng búp lớn hơn, năng suất đạt khoảng 595kg búp tươi/ sào, cao hơn hẳn nương chè không được cải tạo 119kg búp tươi/ sào.
Sau khi tham quan mô hình và thấy hiệu quả kinh tế của việc cải tạo nương chè, bà con đều mong muốn được thành phố tạo điều kiện để mở rộng quy mô cải tạo nương chè giống trung du, đáp ứng yêu cầu của thị trường..


Từng bước xây dựng thương hiệu, giá chè thái nguyên ở Hoàng Nông

Bà con xóm Gốc Sữa, xã Hoàng Nông (Đại Từ) thu hoạch chè.Từ lâu, chè đã được xã Hoàng Nông (Đại Từ) xác định là cây trồng chủ lực để phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo. Những năm gần đây, với việc tăng diện tích, năng suất và sản lượng, người trồng chè ở đây không những thoát khỏi đói nghèo mà còn có cuộc sống khá giả.

Bà con xóm Gốc Sữa, xã Hoàng Nông (Đại Từ) thu hoạch chè.
Dẫn chúng tôi đi thăm những đồi chè bát ngát xanh, ông Nguyễn Anh Tuấn, Chủ tịch UBND xã Hoàng Nông cho biết: Sớm nhận thức được những lợi thế trong phát triển cây chè, nên bà con trong xã đã đầu tư mạnh vào trồng chè. Bằng việc không ngừng mở rộng diện tích chè, tận dụng toàn bộ diện tích đất có thể trồng chè, đến nay cây chè cơ bản phủ kín các diện tích vườn, đồi, soi bãi và cả những khu ruộng cấy lúa kém hiệu quả bà con cũng chuyển đổi sang trồng chè. Toàn xã có 14 xóm thì cả 14 xóm đều trồng chè với tổng diện tích 432ha, trong đó diện tích chè kinh doanh là trên 338ha. Mấy năm gần đây, ở Hoàng Nông không ít hộ giàu lên nhờ làm chè.
Gia đình ông Nguyễn Văn Tuất, xóm An Sơn là một ví dụ. Trước đây, cùng với làm 8 sào chè, gia đình anh còn cấy 6 sào lúa. Nhưng do ruộng cao, khan nước, nên chỉ cấy được 1 vụ. Thấy cấy lúa hiệu quả thấp, ông Tuất đã mạnh dạn chuyển đổi dần diện tích lúa này sang trồng chè. Đến nay, gia đình ông đã có tổng diện tích 13 sào chè, tất cả đều đã cho thu hái. Mỗi năm ông hái 7 lứa, thu về khoảng 52 tạ búp tươi. Nhờ đó, ông đã có điều kiện xây dựng nhà cửa khang trang, mua sắm tiện nghi sinh hoạt, kinh tế gia đình đã khấm khá lên nhiều, con cái có điều kiện tốt để học hành.
Cùng với mở rộng diện tích thì những năm gần đây, người dân trong xã đã thực hiện chuyển đổi cơ cấu giống chè, thay thế dần diện tích chè trung du già cỗi bằng các loại chè cành nhằm nâng cao năng suất, sản lượng. Để khẳng định thêm hiệu quả từ việc chuyển đổi giống chè, ông Tuấn dẫn chúng tôi đến thăm mô hình sản xuất chè của gia đình anh Nguyễn Văn Chinh. Gia đình anh Chinh có gần 6 sào chè đang cho thu hoạch, toàn bộ là các giống chè thái nguyên giâm cành TRI 777 và LDP1. Để chè đạt năng suất và sản lượng cao, hằng năm anh Chinh đều tham dự đầy đủ các lớp tập huấn chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật do cán bộ khuyến nông tổ chức; tích cực tham khảo tài liệu hướng dẫn biện pháp chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh hại cho cây chè qua sách báo và các phương tiện thông tin đại chúng. Điều quan trọng là anh đã mạnh dạn phá bỏ toàn bộ diện tích chè giống cũ, năng suất thấp để đầu tư trồng lại bằng giống chè mới cho năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao. Hiện nay, với diện tích chè này mỗi năm gia đình anh thu được 24 tạ, số tiền thu được trên 70 triệu đồng.
Với sự chuyển đổi mạnh cơ cấu giống chè, đến nay, toàn xã đã có trên 300ha chè giống mới, chiếm trên 70% diện tích chè toàn xã. Ngoài việc áp dụng đồng bộ các kỹ thuật thâm canh, cải tạo đất, biện pháp tưới, trồng cây phân xanh và cây bóng mát… thì trồng thay thế giống chè cũ bằng các giống chè cành chính là yếu tố quan trọng giúp tăng năng suất chè của xã. Năm 2016, xã đã trồng thay thế được gần 20ha, đạt gần 200% so với kế hoạch. Mặc dù diện tích chè của xã không tăng trong 3 năm trở lại đây, nhưng năng suất mỗi năm một tăng. Hiện, năng suất chè trung bình của xã là 110 tạ búp tươi/ha, sản lượng đạt 4.133 tấn/năm, tăng trên 100 tấn so với năm 2015.
Nhờ cây chè, đời sống của người dân được nâng lên đáng kể, năm 2016, tổng số hộ nghèo của xã còn 203 hộ, chiếm trên 13%, giảm trên 5% so với năm trước, hộ cận nghèo là 148 hộ, chiếm gần 10%, giảm trên 6% so với năm 2015. Hiện nay, xã đang làm hồ sơ để công nhận 3 làng nghề chè là: Cầu Đá, Đoàn Kết và Gốc Sữa.
Không chỉ tập trung tăng năng suất, thời gian gần đây, bà con xã Hoàng Nông đặc biệt chú trọng đến chất lượng chè. Hoàng Nông là một trong những xã đầu tiên của tỉnh thực hiện sản xuất chè hữu cơ. Ông Nguyễn Văn Nam, Tổ trưởng Tổ sản xuất chè hữu cơ xóm Cầu Đá cho biết: Trước đây dù biết rằng sử dụng các loại phân hóa học, thuốc trừ sâu có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người sản xuất cũng như không đảm bảo an toàn cho sản phẩm, nhưng vì quen với tập quán canh tác cũ, nên chúng tôi chỉ tự đi mua các loại phân hóa học về bón cho chè và cứ thấy sâu là phun thuốc trừ. Từ khi tham gia mô hình sản xuất chè thái nguyên hữu cơ, chúng tôi đã thay đổi cách làm, bón cây bằng phân vi sinh và sử dụng thuốc trừ sâu thảo mộc. Ban đầu việc thay đổi này có chút lung túng, năng suất chè cũng sụt giảm xuống còn 50%, nhưng đến lứa thứ hai năng suất bắt đầu tăng lên. Đến nay, năng suất chè của mô hình đạt khoảng 70 tạ/ha, tuy không cao bằng các diện tích chăm sóc thông thường, nhưng giá thành sản phẩm lại cao gấp đôi.
Ngoài mô hình sản xuất chè hữu cơ, hiện nay, xã đang triển khai mô hình sản xuất chè theo tiêu chuẩn VietGAP. Đến nay, đã có 60 hộ đăng ký tham gia làm với tổng diện tích gần 20ha. Với sự hướng đến các sản phẩm chè an toàn, hy vọng thời gian tới, chất lượng chè của xã sẽ ngày càng được nâng lên, được nhiều khách hàng biết đến, từng bước xây dựng thương hiệu chè Hoàng Nông.

do sản xuất còn manh mún, sản phẩm, giá chè thái nguyên bà con làm ra

Giới thiệu, quảng bá sản phẩm và giá chè Thái Nguyên mới nhất

Từ ngày 17 đến 23-4, tại công viên Gia Định (T.P Hồ Chí Minh) diễn ra Hội chợ Triển lãm làng nghề Việt Nam năm 2017 với chủ đề “Chất lượng - Thẩm mỹ - Bản sắc”.

Du khách tham quan, tìm hiểu sản phẩm chè Thái Nguyên tại Hội chợ.
Từ ngày 17 đến 23-4, tại công viên Gia Định (T.P Hồ Chí Minh) diễn ra Hội chợ Triển lãm làng nghề Việt Nam năm 2017 với chủ đề “Chất lượng - Thẩm mỹ - Bản sắc”.
Đây là chương trình do Hiệp hội Làng nghề Việt Nam tổ chức nhằm tạo điều kiện cho các làng nghề, ngành nghề truyền thống địa phương có cơ hội tham gia giới thiệu, quảng bá sản phẩm, phát triển thương hiệu, thị trường tiêu thụ. Hội chợ có 350 gian hàng, trong đó có khoảng 200 gian hàng là các làng nghề, thủ công mỹ nghệ của các tỉnh thành trong cả nước.
Tỉnh Thái Nguyên tham gia Hội chợ lần này có gian hàng trưng bày, giới thiệu sản phẩm chè hữu cơ, chè an toàn của doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác đại diện cho 4 vùng chè trọng điểm như: Tân Cương, Phúc Xuân, Phúc Trìu (T.P Thái Nguyên), La Bằng (Đại Từ), Tức Tranh (Phú Lương), Minh Lập, thị trấn Sông Cầu (Đồng Hỷ).
Thông qua Hội chợ, đại diện các làng nghề, hợp tác xã sản xuất chè trong tỉnh mong muốn được chia sẻ kinh nghiệm, tiến tới hợp tác và mở rộng thị trường tiêu thụ trong thời gian tới. Qua đó, góp phần tăng thu nhập, nâng cao cuộc sống người dân các làng nghề.

Hội thảo Nhãn hiệu tập thể “Chè Thái Nguyên” được bảo hộ tại Mỹ
10:34 | 21/04/2017
Sáng 20-4, Sở Khoa học và Công nghệ đã tổ chức Hội thảo Nhãn hiệu tập thể “Chè Thái Nguyên” được bảo hộ tại Mỹ. Tham dự Hội thảo có đại diện Cục Sở hữu trí tuệ, Hiệp hội Chè Việt Nam, một số sở, ngành, địa phương cùng đại diện các hộ sản xuất, kinh doanh chè trên địa bàn tỉnh.

Đại diện Hội nông dân tỉnh nhận Văn bằng bảo hộ cho nhãn hiệu tập thể “Chè Thái Nguyên” do Cơ quan Sáng chế và Nhãn hiệu Mỹ cấp.
Tại Hội thảo, các đại biểu đã nghe các ý kiến tham luận về: Đánh giá hoạt động quản lý, sử dụng và phát triển nhãn hiệu tập thể “Chè Thái Nguyên” trong giai đoạn 2006-2016; Công bố Văn bằng bảo hộ cho nhãn hiệu tập thể “Giá Chè Thái Nguyên” tại Mỹ; Đề xuất các giải pháp nhằm khai thác hiệu quả giá trị của nhãn hiệu tập thể “Chè Thái Nguyên” tại Mỹ…
Trong quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng, sản phẩm chè Thái Nguyên phải đối mặt với không ít thách thức về sở hữu trí tuệ. Với mục đích đảm bảo quyền sử dụng hợp pháp nhãn hiệu “Chè Thái Nguyên” cho các tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện sử dụng, ngăn chặn các hành vi sử dụng trái phép nhãn hiệu, cũng như gia tăng giá trị kinh tế của sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ…, tháng 7-2014, UBND tỉnh đã giao cho Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tập thể tại 3 nước và vùng lãnh thổ: Mỹ, Trung Quốc và Đài Loan.
Tháng 2-2016, nhãn hiệu tập thể “Chè Thái Nguyên” đã được cấp Văn bằng bảo hộ tại Mỹ và dự kiến sẽ tiếp tục được bảo hộ tại Trung Quốc, Đài Loan vào cuối năm nay. Đây sẽ là điều kiện thuận lợi để nâng cao giá trị và năng lực cạnh tranh cho sản phẩm chè Thái Nguyên tại các thị trường nước ngoài tiềm năng. Đồng thời, hạn chế nguy cơ bị chiếm đoạt nhãn hiệu tại thị trường quốc tế, tạo cơ hội cho các tổ chức, cá nhân tham gia sản xuất, kinh doanh chè Thái Nguyên…


Trồng mới và thay thế hơn 60ha chè
08:12 | 03/05/2017
Năm 2017, T.X Phổ Yên có kế hoạch trồng mới và thay thế trên 60ha chè, tập trung chủ yếu ở các xã phía Tây là: Phúc Tân, Phúc Thuận, Thành Công và Vạn Phái.

Người dân xóm 1, xã Phúc Tân, T.X Phổ Yên trồng mới diện tích chè bằng giống LDP1.
Tính đến nay, người dân trên địa bàn thị xã đã đăng ký và trồng được khoảng 30ha chè, với các giống chủ yếu là: LDP1, Phúc Vân Tiên và Kim Tuyên. Phần diện tích còn lại trong kế hoạch sẽ tiếp tục được trồng vào vụ thu (thời gian từ tháng 7 đến 9). Để khuyến khích người dân trồng chè giống mới, dần thay thế những diện tích già cỗi, tỉnh và T.X Phổ Yên tiếp tục thực hiện cơ chế hỗ trợ 100% giá cây giống, một phần phân bón và tập huấn kỹ thuật chăm sóc. Hiện nay, diện tích chè mới trồng đều đang sinh trưởng và phát triển tốt.
Hiện, T.X Phổ Yên có trên 1.500ha chè. Bên cạnh thực hiện trồng mới và thay thế giống chè, Thị xã cũng tiếp tục triển khai các mô hình sản xuất chè an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP với diện tích 15ha tại 2 xã Phúc Thuận và Thành Công.


Xây dựng 400ha chè thái nguyên tập trung
14:41 | 05/05/2017
Năm nay, tỉnh ta sẽ xây dựng 400ha chè tập trung tại huyện Đại Từ. Theo đó, vùng sản xuất chè tập trung được xây dựng tại các xã La Bằng, Phú Cường, Tân Linh, Phú Xuyên, Tiên Hội, Hoàng Nông. Đây là các xã có diện tích chè lớn của huyện Đại Từ.  

Hiện nay, xã La Bằng (Đại Từ) có khoảng 400ha chè, trong đó diện tích chè giống mới chiếm hơn 60%, năng suất chè đạt gần 120tạ/ha. Trong ảnh: Xã viên Hợp tác xã chè La Bằng sản xuất chè an toàn theo quy trình VietGAP.
Hiện nay, huyện Đại Từ có trên 6.300ha chè, trong đó có hơn 5.300ha chè kinh doanh, sản lượng đạt khoảng 62 nghìn tấn/năm. Cả 30 xã, thị trấn của huyện đều sản xuất chè. Những năm qua, cây chè được huyện coi là cây trồng chủ lực trong phát triển kinh tế nông nghiệp, giúp người dân thoát nghèo, vươn lên làm giàu.
Tuy nhiên, do sản xuất còn manh mún, sản phẩm, giá chè thái nguyên bà con làm ra chưa xây dựng được thương hiệu nên hiệu quả kinh tế thu được chưa tương xứng với tiềm năng. Do đó, việc xây dựng vùng sản xuất chè tập trung với quy mô lên tới 400ha sẽ giúp người trồng chè nâng cao được năng suất, chất lượng và thương hiệu sản phẩm, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất của cây chè.


Phát huy truyền thống, xây dựng Thái Nguyên trở thành tỉnh giàu có, phồn thịnh theo lời Bác dặn
08:42 | 19/05/2017
Thái Nguyên là một trong những địa danh nổi tiếng về đèo dốc, rừng sâu, hang động, sông suối hiểm trở, nhưng lại có nhiều lợi thế về quân sự. Nhân dân các dân tộc nơi đây sẵn có truyền thống yêu nước, căm thù giặc và hăng say trong lao động. Chính vì vậy, với tầm nhìn chiến lược của Bác, ngay sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, Bác đã cùng Trung ương Đảng trở lại chiến khu Việt Bắc lựa chọn làm địa điểm An toàn khu (ATK), trong đó có Định Hóa (Thái Nguyên) là ATK kháng chiến.
EmailPrint

Người dân xã ATK Sơn Phú (Định Hóa) đang từng bước chuyển đổi giống chè trung du cằn cỗi sang trồng các giống chè cành cho năng suất, chất lượng cao. Trong ảnh: Nông dân thôn Phú Hội 1 thu hái chè chính vụ. Ảnh: Đức Anh
Ngày 20-5-1947, Bác Hồ và một số cán bộ đã đến ở và làm việc tại Đồi Khau Tý, xóm Điềm Mặc (nay là xã Điềm Mặc). Ít lâu sau, các cơ sở cách mạng đã được sớm nhân rộng. Thái Nguyên đã trở thành “Thủ đô kháng chiến - Thủ đô gió ngàn”. Và chính nơi đây, nhiều quyết sách quan trọng liên quan đến vận mệnh của đất nước, vận mệnh của dân tộc; các Chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông (1947), Chiến dịch Biên giới (1950), Trung Du (1950-1951), Kế hoạch tác chiến Đông - Xuân (1953-1954)…, đặc biệt là ngày 6-12-1953, tại lán Tỉn Keo, xã Phú Đình, Bộ Chính trị đã quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ, một trận đánh “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, kết thúc 9 năm trường kỳ kháng chiến. Cũng chính nơi đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng, Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương quan trọng để lãnh đạo đất nước; viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” giúp cán bộ, đảng viên làm kim chỉ nam cho mọi hành động, đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự.
Trong những năm kháng chiến gian khổ, nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã hết lòng bảo vệ ATK Trung ương, chở che cán bộ cách mạng, cùng bộ đội chiến đấu anh dũng bảo vệ quê hương. 128 điểm di tích lịch sử vẫn còn ghi, mỗi tên, điểm di tích đều được gắn liền với tên gọi của địa danh như: “Đồi Khau Tý”, “Tỉn Keo”, “Đồi Pụ Đồn”, “Cây đa Khuôn Tát”, “Thác Bẩy tầng”; “Đèo De”… tạo thành một quần thể di tích lịch sử. Năm 2012, ATK Định Hóa đã vinh dự được Đảng, Nhà nước, Chính phủ công nhận là Khu di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt. Sự kiện đó lại thêm một lần nữa khẳng định về vị trí, vai trò đặc biệt của ATK Định Hóa trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc của dân tộc ta.
Tự hào với truyền thống của quê hương cách mạng, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh luôn đoàn kết, sáng tạo, vững niềm tin theo Đảng, đóng góp sức người, sức của vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Với những thành tích đó, sau ngày kháng chiến thành công, tỉnh ta đã vinh dự được đón Bác 7 lần về thăm. Thái Nguyên cũng đã vinh dự được Đảng, Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Ba, cùng nhiều phần thưởng cao quý khác… 83 tập thể, 17 cá nhân được Đảng, Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, 552 bà mẹ được truy tặng và phong tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng”.
Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Thái Nguyên tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, phấn đấu đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Từ một tỉnh nghèo, kinh tế chậm phát triển, nay đã vươn lên trở thành một trong những tỉnh khá trong khu vực; Đảng bộ đoàn kết, nhân dân đồng thuận; chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng an ninh được giữ vững; công tác xây dựng Đảng và xây dựng hệ thống chính trị có nhiều chuyển biến tích cực; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng cao. Thu ngân sách năm 2016 đạt trên 9.600 tỷ đồng (phấn đấu đến năm 2018, tỉnh ta tự cân đối thu - chi về ngân sách); thu nhập bình quân đầu người đạt 52 triệu đồng (cao hơn mức bình quân chung của cả nước); giá trị xuất khẩu đạt gần 20 tỷ USD (đứng thứ 3 toàn quốc); chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) đứng thứ 7 cả nước. Đến nay, tỉnh ta đã thu hút được gần một nghìn dự án đầu tư trong và ngoài nước, với tổng số vốn đăng ký hàng chục tỷ USD…
Đặc biệt, trong những tháng đầu năm 2017, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng; điều hành của chính quyền; sự cố gắng, nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân các dân tộc trong tỉnh, chúng ta đã đạt nhiều kết quả nổi bật trong phát triển kinh tế - xã hội. Sản xuất kinh doanh phát triển ổn định, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 17,7% so với cùng kỳ. Tổng thu ngân sách nhà nước trong cân đối trên địa bàn toàn tỉnh đạt 4.665,3 tỷ đồng, bằng 51,8% dự toán năm, tăng 20,2% so với cùng kỳ. Tổng giá trị xuất khẩu ước đạt 6,9 tỷ USD, bằng 32,8% kế hoạch. Sản xuất nông nghiệp ổn định. Các chính sách về an sinh xã hội, giảm nghèo, chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, công tác dân tộc, tôn giáo, công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân tiếp tục được quan tâm chỉ đạo thực hiện. Chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng an ninh được giữ vững. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị được tăng cường; đời sống vật chất và tinh thần của đại bộ phận nhân dân tiếp tục được cải thiện.
Nhân dịp kỷ niệm 70 năm Ngày Bác Hồ về ATK Định Hóa cùng Trung ương Đảng, Chính phủ lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (20/5/1947 - 20/5/2017) và kỷ niệm 127 năm Ngày sinh của Người, Đảng bộ, chính quyền và đồng bào các dân tộc tỉnh Thái Nguyên nguyện mãi mãi thực hiện lời dặn của Người khi về thăm tỉnh ngày 31-12-1963: “Tỉnh ta có nhiều điều kiện rất thuận lợi, toàn thể đồng bào và cán bộ phải ra sức làm cho Thái Nguyên trở nên một trong những tỉnh giàu có, phồn thịnh nhất ở miền Bắc nước ta”.

Trà Thái Nguyên túi lọc, bột trà xanh Matcha, trà sữa; áp dụng sản phẩm chè sạch để làm nguyên liệu cho hóa mỹ phẩm, hàng tiêu dùng..

Đầu tư hơn 220 tỷ đồng phát triển thương hiệu và giá chè Thái Nguyên 2020
14:33 | 24/02/2017
Tỉnh Thái Nguyên dự kiến từ nay đến năm 2020 đầu tư trên 220 tỷ đồng để nâng cao chất lượng và giá chè thái nguyên, trong đó, nguồn vốn ngân sách khoảng 150 tỷ đồng, còn lại là các nguồn vốn huy động của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, các nguồn vốn khác để triển khai đề án nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền vững cây chè.

Thu hoạch chè búp tươi tại Tân Cương. (Ảnh: Trọng Đạt/TTXVN)
Theo đề án của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên, nguồn vốn đầu tư chủ yếu để thực hiện các nhiệm vụ: quy hoạch vùng sản xuất nguyên liệu chè búp tươi phù hợp với cơ cấu loại sản phẩm đối với từng huyện, thành phố, thị xã đồng thời gắn với quy hoạch vùng sản xuất chè ứng dụng công nghệ cao; hình thành các vùng sản xuất chè tập trung, ứng dụng công nghệ cao với quy mô diện tích 3.900 ha tại thành phố Thái Nguyên, huyện Đại Từ, Đồng Hỷ, Phú Lương, Định Hóa, Võ Nhai, thị xã Phổ Yên...
Đề án cũng đặt mục tiêu từng bước đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất chè ứng dụng công nghệ cao; trồng mới, trồng thay thế 4.400 ha chè bằng các giống mới có năng suất, chất lượng, khả năng chống chịu cao. Mỗi năm hỗ trợ chứng nhận trên 300 ha giá chè thái nguyên an toàn sản xuất theo theo quy trình VietGAP (hoặc GAP khác), hỗ trợ và chứng nhận cơ sở đủ điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm 50 cơ sở/năm; xây dựng và quản lý thương hiệu chè Thái Nguyên, phát triển nhanh mô hình tổ hợp tác, hợp tác xã sản xuất, chế biến, tiêu thụ chè an toàn gắn với phát triển hình thức liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm chè theo mô hình chuỗi giá trị...
Trong giai đoạn mới, tỉnh Thái Nguyên chỉ đạo các địa phương khẩn trương chuyển đổi giống theo hướng ưu tiên thay thế giống chè trung du già cỗi, năng suất, chất lượng thấp bằng giống chè mới có năng suất, chất lượng cao, thích ứng với điều kiện tự nhiên tỉnh Thái Nguyên.
Dự án đưa ra mục tiêu phát triển chè giống mới, nhân giống bằng phương pháp giâm hom; xác định cơ cấu giống chè, trong đó chè trung du chỉ chiếm 20% diện tích, các giống mới như: LDP1, Kim Tuyên, Thuý Ngọc, Phúc Vân Tiên, TRI 777, Bát Tiên, Hương Tích Sơn... chiếm 80% diện tích, hàng năm sản xuất khoảng 40 triệu cây giống phục vụ trồng mới và trồng thay thế.
Tỉnh chủ trương phát triển mạnh thương hiệu chè Thái Nguyên trên cơ sở phát huy lợi thế, sức cạnh tranh của sản phẩm về số lượng, chất lượng và giá cả, phát triển thương hiệu sản phẩm gắn với hợp tác xã, doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, thực hiện đặng ký nhãn hiệu tập thể chè Thái Nguyên tại một số thị trường nước ngoài tiềm năng.
Bên cạnh đó, tỉnh áp dụng cơ chế hỗ trợ 100% kinh phí đào tạo hướng dẫn kỹ thuật sản xuất, chế biến chè an toàn theo quy trình VietGAP và GAP khác; hỗ trợ 100% kinh phí đào tạo nâng cao kỹ thuật chế biến chè đảm bảo an toàn thực phẩm, sản xuất hữu cơ; hỗ trợ 50% kinh phí xây dựng thương hiệu sản phẩm.
Tỉnh hỗ trợ xây dựng một số chợ đầu mối, điểm du lịch, thưởng thức văn hóa chè Thái Nguyên tại không gian văn hóa chè thái nguyên tại thành phố Thái Nguyên, huyện Đại Từ, Đồng Hỷ, Phú Lương và các làng nghề trồng, chế biến chè, các điểm dừng chân trong các tour, tuyến du lịch làng nghề đến các vùng chè đặc sản của tỉnh như: Tân Cương, La Bằng, Điềm Mặc, Vô Tranh, Tức Tranh, Trại Cài...
Ông Ngô Xuân Hải, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên cho biết hiện tổng diện tích chè của tỉnh đã đạt trên 21.100 ha, trên 80% diện tích chè tại các vùng sản xuất chè tập trung sản xuất theo hướng an toàn, áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt; 80% sản lượng được chế biến bằng phương pháp truyền thống, cơ giới hoá bằng máy tôn quay, máy vò và dây truyền chế biến quy mô nhỏ tại 43 hợp tác xã và hơn 60 nghìn hộ tại 140 làng nghề sản xuất, chế biến chè với sản phẩm chủ yếu là chè xanh và chè xanh cao cấp; thu nhập từ cây chè tại Thái Nguyên đã đạt trung bình trên 100 triệu đồng/ha/năm.
Ngoài thế mạnh tiêu thụ trong khắp cả nước, chè Thái Nguyên đang có thị trường xuất khẩu ổn định tại Pakistan, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc...
Việc sớm triển khai đề án nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền vững cây chè đến năm 2020 không chỉ đem lại hiệu quả về kinh tế mà còn góp phần giải quyết việc làm, tạo thu nhập ổn định cho trên 300.000 lao động hoạt động trong các lĩnh vực./.

Tổng giá trị xuất khẩu chè thái nguyên ước đạt gần 3 tỷ USD
10:09 | 16/03/2017
Theo thông tin từ Sở Công Thương, tổng giá trị xuất khẩu 2 tháng đầu năm 2017 trên địa bàn tỉnh đạt gần 3 tỷ USD, tăng 18,5% so với cùng kỳ. Trong đó, giá trị xuất khẩu khu vực trong nước ước đạt 36,05 triệu USD; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 2,92 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 98,8% tổng giá trị xuất khẩu trên địa bàn.

2 tháng đầu năm 2017, sản phẩm chè xuất khẩu của tỉnh ước đạt 533 tấn với giá trị khoảng 1 triệu USD, tăng 26,7% về lượng và tăng 28,9% về giá trị so với cùng kỳ. Trong ảnh: Sơ chế chè xuất khẩu tại Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Trung Nguyên.
Theo thông tin từ Sở Công Thương, tổng giá trị xuất khẩu 2 tháng đầu năm 2017 trên địa bàn tỉnh đạt gần 3 tỷ USD, tăng 18,5% so với cùng kỳ. Trong đó, giá trị xuất khẩu khu vực trong nước ước đạt 36,05 triệu USD; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 2,92 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 98,8% tổng giá trị xuất khẩu trên địa bàn.
Mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn nhất là nhóm sản phẩm điện tử viễn thông (điện thoại và linh kiện điện tử) với 2,91 tỷ USD, tăng 18,8% so với cùng kỳ; nhóm kim loại màu và tinh quặng kim loại màu ước đạt 24,3 triệu USD, tăng 51,8%; sản phẩm chè xuất khẩu ước đạt 533 tấn với giá trị khoảng 1 triệu USD, tăng 26,7% về lượng và tăng 28,9% về giá trị. Riêng nhóm hàng may mặc giảm 26% giá trị xuất khẩu so với cùng kỳ (đạt 18,5 triệu USD), nguyên nhân là do đơn hàng xuất khẩu sang thị trường Mỹ giảm, chỉ bằng 64,3% so với cùng kỳ.


Sản xuất chè thái nguyên sạch, hiệu quả tức thì: Doanh nghiệp - đầu kéo để phát triển

08:45 | 17/03/2017
Hầu hết các mô hình sản xuất nông nghiệp an toàn theo các chứng nhận khác nhau thường chỉ tồn tại trong thời gian nhận được sự hỗ trợ. - Nông nghiệp, nông thôn ngày nay, nông thôn mới, lúa nước, ngàn năm văn hiến, trống đồng, hợp tác xã, công nông nghiệp

Sản xuất chè hữu cơ tại chi nhánh Cty CP NTEA Việt Nam tại Thái Nguyên
Khi tham gia mô hình, có ít nhiều nhận thức về thực hành sản xuất nông nghiệp tốt nhưng để tự thân người nông dân chuyển thành hành động là vô cùng nan giải. Sản xuất chè hữu cơ cũng không ngoại lệ. Trong điều kiện đó, doanh nghiệp sẽ là nhân tố quan trọng chủ chốt tạo ra mô hình bền vững, có sức lan tỏa mạnh mẽ.

Nhẫn nại với giá chè thái nguyên khi bán ra thị trường

Ông Nguyễn Kim Tuấn, Giám đốc Chi nhánh Cty Cổ phần NTEA Việt Nam tại Thái Nguyên cho rằng, đòi hỏi của người tiêu dùng về những sản phẩm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đã khiến cho những thương hiệu tồn tại nương tựa vào hào quang của thương hiệu quá khứ dần bị mai một, mất chỗ đứng.
Chính vì vậy mà khi quyết định đầu tư vào Thái Nguyên để sản xuất chè hữu cơ, Cty không lựa chọn những vùng chè nổi tiếng. Địa điểm sản xuất của Cty được chọn là 5ha chè liền khoảnh thuộc xóm Văn Hữu (xã Hóa Thượng, huyện Đồng Hỷ).
Ông Tuấn kể, ông sinh ra và lớn lên ở Văn Chấn (Yên Bái), nơi mà cây chè đã nuôi sống biết bao thế hệ của gia đình ông. Vậy nhưng, ngay từ khi còn nhỏ, ông đã chứng kiến cảnh những người làm chè quê mình vãi sức, đổ độc lên những nương chè như thế nào.
Người người, nhà nhà dùng phân bón hóa học chút vô tôi vạ lên đồi chè. Cứ mưa lại đi bón đạm. Thấy sâu là phun. Phun một thứ thuốc không thấy hết sâu thì phun thuốc khác. Không được thì cộng hai ba loại lại phun tổng hợp. Phun buổi sáng, buổi chiều phun tiếp. Bao giờ hết sâu thì thôi. Nhiều người vác bình thuốc sâu về đến nhà thì nằm vật ra vì nhiễm độc.
Mang tư duy thay đổi và phương pháp sản xuất chè hữu cơ đến Thái Nguyên - thủ phủ trà Việt để đầu tư, ông Tuấn đón nhận nhiều hoài nghi, phản ứng. Rằng làm chè mà không thuốc sâu, không phân bón hóa học, thuốc bón lá, kích phọt đủ loại thì chỉ có lấy sâu chè, lấy rễ chè pha nước mà uống.
Không nao núng, năm 2012, ông Tuấn chọn mua và thuê lại diện tích 5ha chè của người dân xóm Văn Hữu. Theo ông, làm chè hữu cơ không phải nói làm là làm ngay được mà phải kiên trì theo đuổi. Đối với cây chè, phải mất ít nhất 3 năm không bón phân hóa học, không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật thì cây và đất mới hết tồn dư chất hóa học.
Với tổng nguồn vốn đầu tư trên 30 tỷ đồng, Chi nhánh Cty NTEA Việt Nam tại Thái Nguyên đã tạo ra phương thức sản xuất chè thái nguyên công nghệ cao. Áp dụng đồng bộ tiến bộ khoa học kỹ thuật trong việc canh tác cũng như chế biến sản phẩm chè. Mỗi lô chè đều được quy hoạch và có biển ghi thứ tự riêng. Ở các lô đều có giàn van xoay tưới tự động cùng hệ thống cảm biến điều khiển tự động từ xa.
Đúng như tính toán, vừa làm, vừa tuyên truyền, vận động hướng dẫn bà con cùng làm, sau 3 năm, đến đầu năm 2016, sản phẩm chè của Chi nhánh Cty CP NTEA Việt Nam tại Thái Nguyên đã được công nhận đạt tiêu chuẩn sản phẩm chè hữu cơ.
Từ nhà xưởng, kho bảo quản, trưng bày sản phẩm đều được lắp đặt các trang thiết bị phục vụ việc theo dõi, chăm sóc cho cây chè, sản phẩm chè. Cty sử dụng công nghệ điện toán đám mây vào hệ thống tưới tiêu tự động, sử dụng chip điện tử để theo dõi hướng gió, độ ẩm, dinh dưỡng và dự báo thời tiết. Ngoài việc sử dụng phân đã được ủ kỹ, một số loại loại chế phẩm sinh học an toàn để kích thích khả năng hấp thụ của cây được sử dụng như IMZ, BIO FIM…

Thành công

Ngay lập tức, mỗi kg chè xanh hữu cơ NTEA Thái Nguyên đã được bán với giá từ 500 ngàn đồng đến 1,5 triệu đồng/kg. Vấn đề không phải là những sản phẩm chè nói trên đều do phía Cty xuất khẩu mà chính nhiều bạn hàng, người sử dụng trong nước cũng tìm mua.
Ông Tuấn cho rằng, chiến lược đầu tư của Cty đã đúng. Vì, sản xuất hữu cơ đã tạo ra sản phẩm mà mọi người trong xã hội đều mong muốn tìm mua sử dụng. Rõ ràng, lúc này thương hiệu đã được khẳng định lại trên cơ sở xác lập sự an toàn cho sản phẩm chứ không phải là sản phẩm từ vùng nào, miền nào nữa.
Từ chỗ đạt tiêu chuẩn sản phẩm chè hữu cơ, các điều kiện về tự nhiên, nguồn đất, nguồn nước, sản phẩm sơ chế của công ty tiếp tục phải trải qua hàng loạt những kiểm nghiệm nghiêm ngặt và phân tích một cách khoa học theo các tiêu chuẩn quốc tế. Với việc đầu tư nghiêm túc, bài bản, Cty NTEA Việt Nam là đơn vị đầu tiên trong Hiệp hội Chè Việt Nam được tổ chức chứng nhận quốc tế Biocer International trao chứng nhận sản phẩm trà đạt tiêu chuẩn hữu cơ nông nghiệp IFOAM.
Nối tiếp thành công, Chi nhánh Cty NTEA Việt Nam tại Thái Nguyên tiếp tục xây dựng bộ sản phẩm sản phẩm được ưa chuộng như: Trà Thái Nguyên túi lọc, bột trà xanh Matcha, trà sữa; áp dụng sản phẩm chè sạch để làm nguyên liệu cho hóa mỹ phẩm, hàng tiêu dùng... Sản phẩm của Cty ngoài tiêu thụ trong nước còn hướng tới xuất khẩu sang các thị trường như Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Đức…
Việc đạt được chứng nhận hữu cơ quốc tế cho sản phẩm chè chính là giấy thông hành cho chè Việt xuất ngoại với giá trị và đẳng cấp thế giới. Về chiến lược trong thời gian tiếp theo, ông Nguyễn Kim Tuấn cho biết, chủ động về phương thức sản xuất, Công ty đã nhắm đến một số thị trường tiềm năng, vì vậy, trong thời gian tới, Cty sẽ phải tiếp tục mở rộng sản xuất để có được sản lượng hàng hóa quy mô lớn hơn, đảm bảo nhu cầu tiêu thụ.
Ông Dương Sơn Hà, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Thái Nguyên: Chi nhánh Cty NTEA Việt Nam tại Thái Nguyên không chỉ là doanh nghiệp đầu tư có hiệu quả, góp phần phát triển kinh tế xã hội địa phương mà còn làm thay đổi nhận thức về sản xuất chè, là mô hình điểm, kiểu mẫu, có sức lan tỏa, cần nhân diện để sản xuất nông nghiệp hữu cơ nói chung, sản xuất chè hữu cơ nói riêng của Thái Nguyên phát triển đúng với lộ trình tái cơ cấu nông nghiệp trong thời gian tới.

“Rùng mình công nghệ trộn mỳ chính tạo độ ngọt cho chè búp Thái Nguyên”

Đề án phát triển nâng cao giá Chè Thái Nguyên: Hiệu quả và hướng đi

 Sau 5 năm thực hiện Đề án “Nâng cao năng lực sản xuất, chế biến, tiêu thụ và giá ChèThái Nguyên giai đoạn 2011 - 2015”, Thái Nguyên đã tập trung mọi nguồn lực để đầu tư phát triển cây chè, khai thác có hiệu quả tiềm năng của ngành sản xuất chè trên cơ sở ứng dụng công nghệ cao sản xuất sản phẩm an toàn, chất lượng.

Văn pòng điều phối chương trình xây dựng nông thôn mới tỉnh Thái Nguyên và trạm khuyến nông Phú Lương kiểm tra mô hình sản xuất chè.
Thái Nguyên là tỉnh có diện tích và sản lượng chè lớn thứ hai của cả nước. Sản phẩm chè Thái Nguyên đã được người tiêu dùng trong cả nước và quốc tế biết đến với các sản phẩm chè xanh các loại, ướp hương đóng gói, đóng hộp và chè đen. Hiện nay, sản phẩm trà của Thái Nguyên đã có mặt ở thị trường: Trung Quốc, Pakistan, Đài Loan, Nga, Ấn Độ, Nhật Bản, Mỹ...Tiếng thơm về chè Thái Nguyên không chỉ trong nước mà đã được nhiều khách hàng lớn trên thế giới tìm đến.
Trong những năm gần đây, Thái Nguyên đã có nhiều giải pháp nhằm phát triển cây chè cả về diện tích, năng suất, chất lượng, từ đó đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng và thị trường trong và ngoài nước. Năm 2010, Thái Nguyên có gần 18.000 ha chè, đến năm 2015 ước đạt 21.000 ha chè, năng xuất gần 12 tấn/ha; sản lượng chè búp tươi đạt gần 200.000 tấn/năm; giá trị sản xuất đạt 85 triệu/ha; 100% diện tích chè tại các vùng sản xuất tập trung đáp ứng yêu cầu an toàn theo hướng VietGap. Bà Vũ Thị Bích Thủy, Phó Chủ tịch UBND TP Thái Nguyên cho biết: "Thành phố luôn quan tâm, hỗ trợ người dân trồng chè như cử cán bộ xuống địa bàn, hỗ trợ giống có năng suất cao, phân bón, tôn sao chè, hướng dẫn cách sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đảm bảo an toàn thực phẩm và quảng bá thương hiệu sản phẩm".
Để giúp cho chất lượng sản phẩm trà mang thương hiệu Thái Nguyên ngày một nâng cao, giá thành sản phẩm tăng. Cây chè từ chỗ là cây xóa đói, giảm nghèo trở thành cây mũi nhọn, cây làm giàu của người dân, tạo động lực cho người dân an tâm sản xuất. Với những giải pháp cụ thể ông Ngô Xuân Hải, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết: "Trong thời gian tới, Ngành Nông nghiệp sẽ tiếp tục đẩy mạnh sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm chè nhằm tạo ra giá trị thu nhập và giá trị gia tăng sản phẩm với những nội dung cơ bản đó là: tiếp tục chuyển đổi cơ cấu giống chè, đưa những giống chất lượng cao vào sản xuất; đẩy mạnh diện tích trồng chè được sản xuất theo tiêu chuẩn VietGap; đẩy mạnh chế biến chè theo 2 hướng, một là giống chè có thể sản xuất được chè đen xuất khẩu ra nước ngoài, hai là đối với sản phẩm nội tiêu gắn với sản xuất chè xanh trong đó kết hợp sản xuất công nghiệp với truyền thống và gắn kết với du lịch sinh thái".
Cùng với đó, Festival Trà Thái Nguyên – Việt Nam lần thứ 3 năm 2015 được tổ chức tới đây sẽ là cơ hội để giới thiệu, quảng bá sản phẩm trà Việt Nam nói chung và trà Thái Nguyên nói riêng với bạn hàng trong nước và quốc tế. Liên hoan sẽ tạo đà để Thái Nguyên tiếp tục triển khai thực hiện “Đề án chế biến, sản xuất, tiêu thụ chè giai đoạn 2016 – 2020”; trước mắt là xây dựng Đề án phát triển vùng chè Tân Cương TP Thái Nguyên, đưa cây chè trở thành cây mũi nhọn, góp phần phát triển bền vững nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa.



Thái Nguyên: Phấn đấu trồng mới 500ha chè thái nguyên đạt tiêu chuẩn VietGap

Nhằm góp phần nâng tầm thương hiệu chè Thái Nguyên cũng như tạo thêm niềm tin vững chắc cho người tiêu dùng và đảm bảo an toàn sức khỏe cộng đồng. Trong  năm 2016, tỉnh Thái Nguyên tiếp tục phấn đấu trồng mới 500ha chè đạt tiêu chuẩn VietGap.

Toàn tỉnh hiện có trên 640ha chè đạt tiêu chuẩn VietGap. Ảnh: Cẩm Vân
Để đạt được chỉ tiêu này, Tỉnh sẽ hỗ trợ 3 tỷ đồng cho các mô hình được cấp chứng nhận sản xuất chè theo quy trình VietGap. Các đối tượng được ưu tiên hỗ trợ là những mô hình, tổ hợp tác có quy mô diện tích sản xuất chè từ 5ha trở lên; hợp tác xã hoặc làng nghề sản xuất, chế biến chè có quy mô diện tích sản xuất từ 10ha trở lên. Đặc biệt, đối tượng được hỗ trợ phải có đăng ký đề nghị hỗ trợ chứng nhận VietGap (hoặc Gap khác tương đương). Theo đó, Tỉnh sẽ hỗ trợ một lần, mức hỗ trợ 100% tiền thuê tổ chức chứng nhận đánh giá, cấp mới giấy chứng nhận và tập huấn quy trình VietGap 6 triệu đồng/ha.
Tính đến nay, toàn tỉnh đã có trên 640ha chè đạt tiêu chuẩn VietGap. Việc sản xuất chè theo tiêu chuẩn VietGap góp phần hạn chế nguy cơ gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động trong sản xuất,từ đó giá bán chè của người dân được nâng lên,hiệu quả sản xuất đạt cao hơn trên cùng một đơn vị diện tích./.


Họp bàn xử lý thông tin về việc trộn mỳ chính tạo độ ngọt cho giá chè Thái Nguyên


Sáng nay (18/10), dưới sự chủ trì của Sở Thông tin và Truyền thông, đại diện UBND huyện Phú Lương, Kênh VTC 16 đã họp bàn để giải quyết dứt điểm về việc Kênh VTC 16 phát sóng phóng sự công nghệ trộn mỳ chính tạo độ ngọt cho chè Thái Nguyên, trong đó có ghi hình tại một hộ sản xuất chè trên địa bàn huyện Phú Lương. Dự buổi làm việc có đại diện một số ngành có liên quan và các cơ quan báo chí của địa phương.


Trước đó, trên Kênh VTC 16 đã phát sóng sự “Rùng mình công nghệ trộn mỳ chính tạo độ ngọt cho chè búp Thái Nguyên”. Trong phóng sự này phóng viên của VTC 16 đã đi qua Thị trấn Giang Tiên và thực tế tìm hiểu, sử dụng nghiệp vụ ghi hình tại một hộ nông dân trồng và sản xuất chè là gia đình bà Phạm Thị Đặng thuộc xóm Làng Trò, xã Phấn Mễ, huyện Phú Lương - mà như phản ánh trong phóng sự thì hộ gia đình nông dân này đã cho mỳ chính vào chè theo yêu cầu của khách hàng.
Sau khi phóng sự phát sóng, UBND huyện Phú Lương đã thành lập đội kiểm tra liên ngành gồm: Đội Quản lý thị trường, phòng Công thương, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, thành viên Ban chỉ đạo 389 đến kiểm tra đột xuất và lấy mẫu chè tại gia đình bà Đặng đi xét nghiệm chỉ tiêu về an toàn thực phẩm. Căn cứ vào kết quả phiếu kiểm nghiệm số 185/PKN - TTYTDP tỉnh Thái Nguyên cho kết quả mẫu chè khô tại nhà bà Phạm Thị Đặng đảm bảo về an toàn thực phẩm, các chỉ tiêu nằm trong giới hạn cho phép của Bộ Y tế, không xác định được chất tạo ngọt trong chè. Còn hành động cho chất tạo ngọt vào chè như phản ánh của kênh VTC16, bà Đặng cho biết đã thực hiện theo yêu cầu của khách hàng với số lượng 03 kg và đã được khách hàng mua, mang đi. Qua kiểm tra cũng cho thấy, trong sản xuất, chế biến chè của bà Phạm Thị Đặng có hành vi vi phạm hành chính, Đội kiểm tra liên ngành đã lập hồ sơ và xử phạt hành chính theo đúng quy định của pháp luật. Bà Phạm Thị Đặng đã cam kết sản xuất chè đảm bảo an toàn thực phẩm, không tái diễn vi phạm để gìn giữ thương hiệu chè Thái Nguyên.
Tại cuộc họp, đại diện lãnh đạo UBND huyện Phú Lương và đại diện của Kênh VTC 16 đã chia sẻ thông tin trên tinh thần cởi mở, xây dựng và khẳng định: Cơ quan quản lý Nhà nước không bao giờ bao che cho những hành vi dù vô hình hay hữu ý của những trường hợp làm tổn hại đến chất lượng, thương hiệu chè Thái Nguyên nói chung, chè Phú Lương nói riêng. Thông tin mà Kênh VTC 16 đã nêu không nhằm mục đích làm tổn hại đến thương hiệu chè Thái Nguyên mà hướng tới để người nông dân trồng, chế biến chè được tốt hơn. Hai bên cũng đã thống nhất phối hợp cung cấp thông tin và đẩy mạnh công tác tuyên truyền để giải quyết dứt điểm các vấn đề dư luận quan tâm về vụ việc này trong thời gian tới./.

Thứ Tư, 8 tháng 4, 2020

Matcha là một loại trà xanh được làm từ lá của Camellia sinensis

Khi tìm kiếm trên Google cụm từ “giảm cân” thì vô thiên lủng các thực phẩm chức năng được giới thiệu với tác dụng giảm cân khiến nhiều người không biết thực hư. Các nhà khoa học đã chứng minh năm loại thực phẩm chức năng dưới đây không hề có tác dụng giảm cân như lời quảng cáo.
Khoa học chứng minh năm loại thực phẩm giảm cân này vô tác dụng
Bột trà xanh matcha không hỗ trợ giảm cân như lời đồn.
1. Chiết xuất từ quả mâm xôi
Raspberry ketone chứa đựng những hóa chất được tìm thấy trong quả mâm xôi đỏ được giới thiệu là những viên nén giảm cân.
Một nghiên cứu trên những con chuột béo thấy rằng chiết xuất này từ quả mâm xôi làm giảm tổng lượng chất béo trên cơ thể của chúng. Ở một nghiên cứu khác, 70 người trưởng thành trong tình trạng béo phì đã sử dụng biện pháp ăn kiêng giảm cân, các chương trình tập luyện và lựa chọn ngẫu nhiên một loại hỗ trợ giảm cân như raspberry ketone hoặc caffeine, tỏi hoặc là một loại giả dược không có tác dụng gì.
Chỉ có 45 người tham gia hoàn thành nghiên cứu. Trong đó, có 27 người sử dụng hỗ trợ giảm khoảng 1,9 kg so với 400 gram trong nhóm 18 người sử dụng giả dược. Tỷ lệ bỏ cuộc là rất cao nên các kết quả cần phải giải thích rất cẩn thận.
Một nghiên cứu thử nghiệm nhỏ với năm người trưởng thành thấy rằng không có tác động đến cân nặng khi những người tham gia được yêu cầu giữ nguyên cách ăn uống và các bài tập thể dục hiện tại của họ và chỉ bổ sung 200 mg ketone quả mâm một ngày.
Đã dấy lên những lo ngại được đặt ra về tác dụng độc hại tiềm tàng của ketone quả mâm xôi đối với tim và sinh sản.
Nhận định: Không nên mua ketone mâm xôi và sử dụng số tiền đó để mua các loại thực phẩm có chứa chất này bao gồm các loại quả mọng như ki-wi, đào, nho, táo còn tươi.
2. Bột trà xanh matcha
Matcha là một loại trà xanh được làm từ lá của Camellia sinensis hoặc cây chè, nhưng nó được xử lý thành bột trà xanh và có thể trộn với các đồ uống lỏng hoặc thực phẩm.
Trước khi lá cây được thu hoạch, cây chè được phủ tối trong vài tuần. Việc này làm cho nó gia tăng hàm lượng theanine và caffeine.
Không có các nghiên cứu kiểm tra tác dụng của matcha trong việc giảm cân. Một đánh giá với sáu nghiên cứu việc sử dụng trà xanh để làm giảm cân trong vòng 12 tuần cho thấy các khác biệt đối với từng quốc gia. Trong các nghiên cứu không phải ở Nhật Bản, những người sử dụng bột trà xanh không giảm được cân.
Trong tám nghiên cứu được tiến hành ở Nhật Bản, mức giảm cân trung bình từ 200 gram đến 3,5 kg nếu sử dụng trà xanh.
Nhận định: Cho đến hiện nay chưa có nghiên cứu nào kiểm tra xem liệu trà matcha có thể giảm cân hay không.
3. Quả Garcinia cambogia
Garcinia cambogia là một loại quả nhiệt đới, thuộc họ bứa, có chứa một lượng lớn Hydroxycitric Acid (HCA) được cho là có tác dụng giảm cân.
Trong các nghiên cứu trên động vật, HCA gây cản trở việc tổng hợp a-xít béo thông thường. Nếu điều này được chuyển sang con người, về lý thuyết, nó có thể khiến việc chuyển hóa chất béo khó khăn hơn và tăng tốc độ giảm cân. Nhưng những nghiên cứu trên con người lại cho thấy nó không có tác dụng.
Trong một thử nghiệm kéo dài 12 tuần với những phụ nữ thừa cân sử dụng chế độ ăn kiêng thấp, có sử dụng kèm HCA hoặc không kèm HCA thì thấy rằng nhóm sử dụng HCA giảm cân nhiều hơn (3,7 kg so với 2,4 kg ở những người không sử dụng HCA), hai thử nghiệm khác cho thấy không có gì khác biệt trong việc giảm cân.
Một thử nghiệm kéo dài 12 tuần với 135 đàn ông và phụ nữ thấy rằng không có sự khác việc trong việc giảm cân giữa nhóm sử dụng HCA (3,2kg) và nhóm sử dụng giả dược (4,1kg).
Một thử nghiệm 10 tuần với 86 đàn ông và phụ nữ trong tình trạng thừa cân và ngẫu nhiên sử dụng chiết xuất từ Garcinia cambogia hoặc giả dược, nhưng không sử dụng bữa ăn giảm cân cho thấy mức giảm thấp nhất của 650 gram đối với 680 gram, cũng không có gì khác biệt giữa hai nhóm.
Nhận định: Garcinia cambogia không có tác dụng giảm cân.
4. Dùng caffeine
Cà-phê được tuyên bố làm tăng tốc độ chuyển hóa của bạn và từ đó làm tăng tốc độ giảm cân.
Các nghiên cứu khoa học trên các tình nguyện viên có tình trạng cân nặng khỏe mạnh cho thấy việc sử dụng caffeine có gia tăng trao đổi chất nhưng nó phụ thuộc vào liều dùng. Sử dụng nhiều caffeine thì càng gia tăng tốc độ trao đổi chất.
Lượng caffeine dùng thấp nhất là 100 mg bằng lượng trong một tách cà-phê tan, làm tăng tốc độ trao đổi chất trung bình thêm 9 calo mỗi giờ, trong khi lượng dùng 400 mg tương đương với 2 đến 3 cốc cà-phê, làm tăng tốc độ trao đổi chất khoảng 34 calo trong một giờ, kéo dài trong ba giờ.
Nếu người trưởng thành với tình trạng thừa cân được sử dụng với lượng 8mg caffeine cho một kg trọng lượng cơ thể thì sự gia tăng trao đổi chất vào khoảng 16% trong ba giờ.
Khi người lớn bị béo phì được bổ sung caffeine với liều 8 miligam mỗi kg trọng lượng cơ thể, có sự gia tăng tỷ lệ trao đổi chất khoảng 16% trong tối đa ba giờ.
Trong một nghiên cứu với những người trưởng thành bị thừa cân được yêu cầu theo đuổi bữa ăn giảm cân, sau đó sử dụng ngẫu nhiên có bổ sung 200mg caffeine ba lần một ngày hoặc bổ sung giả dược, cũng không có sự khác biệt trong việc thay đổi cân nặng giữa các nhóm.
Trong tám tuần đầu tiên, nhóm dùng bổ sung caffeine đã trải qua tác dụng phụ như chứng mất ngủ, run và chóng mặt.
Nhận định: Caffeine làm tăng tốc độ trao đổi chất trong ngắn hạn nhưng không làm tăng tốc độ giảm cân.
5. Nước kiềm hóa
Sản phẩm kiềm hóa được quảng bá rộng rãi. Chúng bao gồm nước kiềm, bột kiềm và chế độ ăn kiềm.
Bạn nên đo độ axit của nước tiểu và/hoặc nước bọt để "đánh giá" mức độ axit của cơ thể. Nước tiểu thường có độ pH hơi axit (trung bình khoảng pH6) - rau và trái cây làm cho nó có tính kiềm hơn, trong khi ăn thịt làm cho nó ít hơn.
Nước bọt có độ pH trung tính là 7. Chế độ ăn nhiều kiềm khuyên bạn nên điều chỉnh những gì bạn ăn dựa trên độ pH của nước tiểu hoặc nước bọt, họ khẳng định độ pH nhiều kiềm hơn giúp tiêu hóa, giảm cân và hạnh phúc.
Nhưng dạ dày của bạn có tính axit cao ở độ pH dưới 3,5, với loại axit này giúp phân hủy thức ăn. Sau đó, nó di chuyển vào ruột non để tiêu hóa và hấp thu trong đó độ pH tăng lên 4,5 - 5,0, vẫn còn có tính axit.
Cơ thể con người có các cơ chế cân bằng pH được kiểm soát tốt để bảo đảm pH máu nằm trong khoảng 7,35 - 7,45, nếu không sẽ tử vong.
Về mặt tích cực, chế độ ăn nhiều kiềm khuyến khích ăn uống lành mạnh hơn bằng cách thúc đẩy thực phẩm dựa trên thực vật như trái cây và rau quả. Có một số bằng chứng về sử dụng ít hơn thực phẩm có nguồn gốc động vật góp phần vào nạp axit có liên quan đến sức khỏe lâu dài tốt hơn.

Thứ Năm, 28 tháng 11, 2019

Sản phẩm trà Tân Cương Thái Nguyên chất lượng cao, giá rẻ

https://chetancuongthainguyen.com.vn XIN GIỚI THIỆU NHỮNG SẢN PHẨM TRÀ TÂN CƯƠNG NGON NHẤT THÁI NGUYÊN - Giới thiệu các vùng chè Thái Nguyên nổi tiếng nhất

CHÚNG TÔI CHUYÊN BÁN BUÔN, BÁN SỈ CÁC SẢN PHẨM TRÀ THÁI NGUYEN NGON NỔI TIẾNG VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI. XIN LIÊN HỆ LÀM ĐẠI LÝ: 0988925926

Chè Tân Cương - Vùng Trà Thái Nguyên nổi tiếng


Vùng trồng trà Tân Cương nằm ở phía tây của Thái Nguyên. Gần khu du lịch Hồ Núi Cốc nổi tiếng. Xã Tân Cương có địa thế đồi núi phù hợp với phát triển cây chè. Bên cạnh đó, còn có Sông Công thơ mộng cung cấp nguồn nước mát lành. Vì vậy, Chè búp Tân Cương có màu xanh đen, xoăn chặt, cánh chè gọn nhỏ, trên bề mặt cánh chè có nhiều phấn trắng. Nước trà rất trong, xanh, vàng nhạt, sánh. Nước chè có vị chát ngọt, dễ dịu, hài hòa, có hậu, gần như không cảm nhận có vị đắng. Mùi chè thơm ngọt, dễ chịu. Chất lượng bao gồm các chỉ tiêu về ngoại hình, màu nước, và đặc biệt về mùi thơm của trà Tân Cương là kết quả của quá trình chế biến rất tỉ mỉ, công phu do xử lý nhiệt tạo ra.

Chè La Bằng - thương hiệu Trà Thái Nguyên lâu đời

Xã La Bằng là vùng đất thuộc huyện Đại Từ nằm ở phía Bắc của Thái nguyên, càng đi về phía bắc cảnh sắc núi rừng tây bắc càng đẹp. “Rừng cọ đồi chè, đồng xanh ngào ngạt” đẹp như tranh vẽ. La Bằng là một trong số những vùng sản xuất trà Thái Nguyên ngon đặc biệt, nước chè có màu mật ong vàng óng. Cây chè xuất hiện ở La Bằng từ cuối thế kỷ 19, hiện nay tổng diện tích chè toàn xã có gần 400ha được phân bố ở cả 10 xóm, năng suất chè bình quân đạt trên 98tạ/ha. Hương vị Chè La Bằng từ lâu đã đi vào lòng người. Nếu có dịp hãy thưởng thức hương vị trà Thái Nguyên ngay trên mảnh đất La Bằng, bạn sẽ cảm nhận được hương vị thơm ngon đặc biệt.

Chè Trại Cài - Trà Xanh Thái Nguyên vị ngon đặc biệt

Trại cài là một địa danh nhỏ của Huyện Đồng Hỷ, nằm ngay sát thành phố Thái Nguyên, cách thành phố một cây cầu Gia Bẩy. Khí hậu và thổ nhưỡng Đồng Hỷ rất trong lành. Người dân thân thiện và chăm chỉ. Mỗi năm vùng chè Trại Cài (xã Minh Lập) cung cấp cho thị trường gần 700 tấn chè búp khô. Chè Trại Cài là một trong những loại trà Thái Nguyên có vị ngon đặc biệt: Đó là mùi hương cốm bay, nước sánh vàng mật ong, đắng, ngọt, chát, thơm hoà quyện làm quyến rũ lòng người.

Chè Khe Cốc - Cảnh sắc và hương Trà Thái Nguyên đậm đà.

Khe cốc là một xã của huyện Phú Lương, một địa danh mà người Thái Nguyên luôn đùa nhau rằng, nếu không muốn vô Phú Lương thì hãy làm ăn lương thiện. Vì đây là khu trại giam của Thái Nguyên. Bao bọc xung quanh Phú Lương là đồi núi, sông suối và các đồi chè thái nguyên, là rào cản với bất kỳ phạm nhân nào. Khe Cốc (xã Tức Tranh) là vùng chè trọng điểm của huyện Phú Lương, không chỉ bởi có diện tích chè lớn mà chất lượng trà thái nguyên ở đây cũng thơm ngon không thua kém các vùng chè ngon khác. Chè Khe Cốc từ lâu đã rất nổi tiếng bởi độ nồng, đượm nhờ dòng nước trong mát từ các khe suối nguồn của con sông Cầu.

Trong 4 vùng trồng chè kể trên thì trà Tân Cương Thái Nguyên là nổi tiếng và được ưa chuộng hơn cả. Nói như vậy không có nghĩa là các vùng trồng chè còn lại là không ngon bằng. Vị ngon của chè Thái Nguyên còn tùy thuộc vào cảm nhận của mỗi người. Nếu bạn đã quen thuộc với với chè tân cương thì hãy thử sang chè la bằng, chè khe cốc hoặc chè trại cài để cảm nhận hết được hương vị của chè thái nguyên ngon nổi tiếng./.

Thứ Ba, 4 tháng 8, 2015

Chè Tân Cương Thái Nguyên cần tuyển Đại lý tại Hà Nội

Công ty chè Thái Nguyên cần tuyển đại lý chè Tân Cương tại Hà Nội

Công ty chúng tôi chuyên sản xuất các sản phẩm chè Tân Cương Thái Nguyên chất lượng cao tại vùng chè đặc sản Tân Cương chính gốc, với nhiều năm kinh nghiệm sản xuất chè sạch và an toàn, chất lượng tuyệt vời, giá cả cực thấp và là đồ uống hấp dẫn nhất của mọi người dân Việt Nam nói riêng, người tiêu dùng trên toàn thế giới nói chung.
Thưởng thức chè Thái Nguyên của công ty chúng tôi để biết được chất lượng của nó như thế nào, có đúng với thực tế hiện nay đang quảng cáo hay không.
Chi tiết xin mời xem tại: http://tancuongtra.vn/dai-ly-che-thai-nguyen-p9.html